|
| Nhiều bản làng nằm dọc đường lớn nhưng trông rất tuềnh toàng, vắng vẻ. |
(TBKTSG Online) - Buổi sáng tôi dậy, lại tiếp tục ngồi gõ bài về Vang Vieng đến khoảng 10 giờ thì trả phòng. Dắt xe ra, tôi đi qua ngôi nhà có tivi phát ra tiếng Việt. Đó là một căn nhà sàn theo đúng kiểu Lào.
Lại gặp "Việt kiều"
Tôi dựng xe dưới và định bước lên thì một bà lão ra hỏi tôi có vẻ khó chịu bằng tiếng Việt: “Có chuyện gì không?” (người Lào đối với tôi còn thân thiện hơn bà lão này nhiều). Tôi trả lời: Nghe tivi tiếng Việt nên nghĩ chắc có người Việt ở nên ghé hỏi thăm. Tôi hỏi câu nào, bà lão trả lời câu đó, có vẻ xẵng giọng và không muốn tiếp chuyện với tôi; một lúc sau thì giọng bà mới dịu lại.
Gia đình họ 6 người từ Huế sang làm công nhân xây dựng. Căn nhà sàn này là của họ thuê, cộng thêm điện nước mỗi tháng khoảng 500 ngàn kip. Tiền ăn cho 6 người mỗi ngày khoảng 100 ngàn kip. Bà bảo thịt ở Lào rẻ hơn ở Việt Nam (vậy mà nào giờ tôi cứ đinh ninh là Lào mắc hơn; chắc do tôi lấy mức giá từ lúc tôi còn ở Việt Nam ra mà so sánh).
Nói chuyện với bà lão được dăm câu thì một thanh niên bước vào, hất mặt hỏi tôi: Có chuyện gì không? Tôi nói hơi đùa một tí: nghe nói có người Việt ở đây nên đến hỏi thăm, được không vậy? Nếu không được thì đi. Anh ta nói, được chứ. Tuy nhiên tôi vẫn chia tay họ mà đi bởi vì họ trông không thân thiện lắm.
Đến tận sáng hôm đó, tôi mới biết rằng chợ thức ăn bán sẵn cũng nằm trên đường đi Vientiane. Tuy nhiên, nếu đi thẳng con đường ở trung tâm Vang Vieng về hướng Vientaine sẽ bỏ qua cái chợ này; vì thế muốn đi đến đây thì phải rẽ trái ở ngã ba từ hướng Luang Prabang. Tôi ghé chợ mua 5 ngàn cơm nếp, 10 ngàn cá nướng và 2 ngàn rau mang theo ăn. Lúc ấy mọi người thấy chiếc xe đạp đầy hành lý của tôi nên bu lại nhìn và hỏi người nước nào, tôi nói: Côn Việt (người Việt) và ra dấu là đã đạp hơn 1.700 cây số rồi. Họ le lưỡi.
Ăn cơm chùa
Tôi đạp xe ra khỏi Vang Vieng khoảng 4 cây số thì thấy bên tay trái là một ngôi chùa cũng lớn và bên phải đường là một bà lão tay xách làn mây đang băng qua. Thấy tôi cũng qua đường vào chùa. Bà lão dừng ở bậc tam cấp để chờ. Sau đó bà rủ ngồi xuống chiếu được trải sẵn ở chánh điện và hỏi chuyện. Khi biết tôi đi xe đạp từ Trung Quốc về, bà nói: keng (tôi không biết bà nói vậy là khen hay chê nữa?!).
Một lúc sau có tiếng trống thùng thùng (bà lão nói gì đó mà tôi đoán là báo hiệu giờ ăn cơm trưa). Thêm vài phụ nữ che dù, xách làn mây vào. Thì ra họ mang thức ăn đến cúng dường cho các sư và chú tiểu ăn trưa (chắc nhiều người trong số họ có bà con gì với những người đang tu trong chùa). Một phụ nữ có vẻ là trưởng nhóm, tiếp nhận thức ăn của những người khác và sắp vào hai cái mâm đan bằng mây đã để sẳn chén bát.
Một lúc sau thì 6 chú tiểu nai nịt gọn gàng vào ngồi bên trái tượng Phật, sư trụ trì ngồi ngay trước tượng Phật. Một mâm được dọn cho nhà sư, một mâm được dọn cho các chú tiểu (các chú tiểu bê mâm không phải người cúng dường bê).
| Cảnh cúng dường trong một ngôi chùa cách Vang Vieng chừng 4km. |
|
Một số phụ nữ cúng dường vẫn ngồi đợi và họ ra dấu bảo tôi ở lại ăn cơm. Tò mò muốn biết nên tôi ở lại chờ xem. Trước khi ăn, vị sư và các chú tiểu chắp tay về hướng các vị cúng dường và đọc lên vài câu kinh mà tôi đoán là cám ơn họ đã cúng dường. Các phật tử cúng dường chắp tay xá trở lại.
Trong khi ngồi chờ sư và các chú tiểu ăn, mọi người nói chuyện với nhau, rì rầm chứ không nói lớn tiếng. Tôi quan sát họ. Thật kỳ lạ là họ mặc cả áo sát nách vào chùa! Ôi trời, Lào chỉ mới phát triển du lịch trong vòng 10 năm trở lại mà đã thế.
Sau khi các chú tiểu và sư ăn xong thì bê mâm trở lại chỗ cũ. Vậy là các vị cúng dường ăn phần thức ăn thừa trên mâm. Các bạn chớ vội phê bình gì hết nhé! Ở một số quốc gia Phật giáo, việc ăn thừa thức ăn của các nhà sư được xem như được ban phúc đấy. Họ xem những gì các vị sư dùng rồi mà ban lại cho họ thì như được Phật ban phúc đấy! Chẳng phải các nhà sư luôn được xem như đại diện cho đức Phật sao?
Có thể các bạn sẽ nghĩ rằng đâu phải sư nào cũng đủ tốt để có thể làm đại diện cho đức Phật. Việc họ tốt hay không là việc riêng của từng cá nhân họ các bạn ạ, còn phật tử vẫn luôn xem các vị chư tăng ấy là đại diện của đức Phật. Giống như họ là biểu tượng ấy, còn việc họ có xứng đáng làm biểu tượng hay không là việc riêng của họ; nếu họ không giữ đúng quy tắc nhà Phật thì đó là tội của riêng họ; vì vậy chúng ta không thể chỉ nhìn thấy những cá nhân riêng lẻ mà quy tội chung cho cả tăng đoàn.
Họ mời tôi ăn chung thức ăn thừa ấy; dĩ nhiên là tôi không từ chối. Nguyên tắc của tôi là người bản địa làm sao thì tôi làm vậy. Sau khi ăn thì mọi người dọn dẹp và tôi phụ họ rửa chén bát. Xong xuôi thì mọi người xách làn mây lên và mạnh ai về nhà nấy. Tôi cũng ra lấy xe đi sau khi chụp vài tấm ảnh.
Đoạn đường dễ chịu
Tôi lên đường giữa trưa nắng. Ở đoạn này đường khá bằng phẳng nên chạy qua 5 cây số rồi mà giống như tôi vừa đẩy xe được 500 mét trên núi đấy. Từ Vang Vieng đến Vientiane khoảng 150 cây số và nhiều đoạn đường bằng phẳng như thế nên một cua rơ đã mô tả là “as flat as a pancake”. Nhưng sự thật có phải đúng thế đâu, cũng lúc lên lúc xuống. Có khi tôi cũng phải nhảy xuống xe mà đẩy lên dốc.
Hôm đó tôi không thấy anh chàng người Pháp Andrien đâu cả. Không biết anh ta còn xe đạp mà đi hay không? Tối hôm trước, sau khi ăn xong anh ta có nói với tôi rằng anh ta bỏ quên xe đạp ở chỗ xem trận rugby (bóng đá bầu dục kiểu Anh) mà xe lại không có khóa. Trước đó anh ta đã quên cái máy sạc pin máy ảnh ở ngôi làng nơi mà tôi ngủ trong tiệm tạp hóa ấy. Thật là...!
|
| Một đoạn đường từ Vang Vieng đi Vientiane chạy dọc bờ sông, gió mát nhưng đường dốc, khó đi. |
Ra khỏi Vang Vieng khoảng 20 cây thì đến một thị trấn khá lớn, có cả nhà trọ. Từ thị trấn này thì con đường đi dọc theo một con sông xanh biếc với nhiều cù lao; tôi thấy có một nhà máy giấy trên đoạn đường này. Càng đi thì đường càng lên dốc và càng vắng vẻ. Cứ lên dốc vài trăm mét rồi lại xuống dốc vài trăm mét làm tôi nhảy lên nhảy xuống xe đạp hụt cả hơi nhưng nếu ngồi đạp lên dốc thì không đạp nổi.
Đói rã ruột nên đến khoảng 5 giờ chiều thì tôi dừng xe lại ở ngay cạnh đường và chén mấy món mình mua lúc sáng. Bây giờ tôi mới phát hiện loại cá mà tôi đinh ninh là cá trê là không phải cá trê và loại rau xanh cho vào bịch mà tôi hay nghĩ là rau xào lại là rau ngâm nên ăn hơi chua chua giống như ăn kim chi.
Trời tối dần nên tôi dừng lại ở một bản tìm chỗ ngủ. Họ bảo không có và ra dấu bảo tôi chạy xe đến thị trấn Hinheup nào đó. Lúc ấy trời tối luôn rồi. Tôi ra dấu nói muốn cắm trại ngủ trên thảm cỏ gần nhà họ (bãi cỏ mượt mà và có cây nước công cộng gần đó) thì họ bảo không được và chỉ tôi sang làng tiếp theo (các làng nằm san sát); làng tiếp theo lại chỉ qua làng tiếp theo. Cuối cùng tôi hiểu ra là vì họ nghĩ cắm trại thì phải có mái che nên họ chỉ tôi đến làng nào có mái che.
|
| Tôi ngủ thật ngon trong lều của mình trên bãi cỏ êm ái. |
Cuối cùng tôi mệt quá nên chỉ vào một mái che và hỏi cắm trại được không thì họ nói được. Tuy nhiên tôi cắm trại luôn giữa trời dù họ cố thuyết phục tôi vào mái che để tránh mưa. Tôi đành phải trấn an họ rằng lều của tôi có đồ đậy tránh mưa. Họ bu lại lấy đèn pin rọi cho tôi dựng trại. Tôi làm xong thì họ nói gì đó mà tôi đoán là họ nói: thì ra đây là cái trại (chắc họ ít hoặc không thấy bao giờ). Khi tôi ra ngoài tìm nước rửa mặt thì một thanh niên rọi đèn dẫn tôi đến chỗ cây nước công cộng của làng cũng gần đấy.
Tôi ngủ thật ngon trong lều của mình trên bãi cỏ êm ái.
Buổi sáng, tôi dậy thật sớm, dậy theo dân làng. Sau khi rửa mặt thì tôi thấy một phụ nữ xách một làn bằng nhựa đi qua và người dân xúm lại mua. Tôi mua 10 ngàn thức ăn làm sẵn, mỗi gói giá 2 ngàn kip gồm dồi, thịt heo hun khói, cá bọc lá chuối nướng và nem nướng; tôi để dành ăn với cơm mà tôi mua từ hôm qua ăn mãi vẫn không hết.
Mấy cái trứng gà tôi mua ở Vang Vieng do xe dằn xốc nên bể 1 cái và 3 cái bị dập, chỉ có một cái là nguyên vẹn. Tôi nhìn quanh quất xem nhà nào đang nấu cơm nếp (có khói bốc lên) thì đến xin cho trứng vào xoang nước sôi họ để bên dưới gá cơm. Chị chủ nhà mới có 39 tuổi thôi mà có 4 người con, 3 trai, 1 gái, cô gái 15 tuổi mà ra dáng vẻ lắm rồi. Đúng là dân Lào kết hôn sớm thật.
Chia tay dân làng, tôi lại lên đường. Cũng cứ lên xuống dốc. Sáng sớm trời mát mẻ nên tôi đạp xe theo kiểu sau: tôi thả cho xe chạy tự do xuống dốc và sẵn trớn nên nó lên nửa dốc, nửa dốc còn lại thì tôi đứng dậy để lấy sức đạp lên. Tôi cứ đi theo kiểu ấy và cuối cùng cũng vào được thị trấn Hinheup.
Cầu Hinheup do chính phủ Nhật hỗ trợ xây dựng nên khá đẹp. Bến xe Hinheup thì giống như một bãi đất trống có vài hàng quán dựng lên, xe vào đỗ và người bán hàng rong thì tụ tập lại. Vậy là ra một bến xe.
|
| Hành trình đạp xe xuyên Lào của tôi liên tục đi qua các bản làng, rừng núi và những đồng cỏ thả chăn gia súc. |
Tôi lại đạp xe, hết lên dốc, lại xuống dốc, qua các bản làng. Cuối cùng ra khỏi huyện Hinheup và vào huyện Phonehong, đường bụi mịt mù. Bên đường có bảng chỉ dẫn vào NamLik Eco Village. Tôi rẽ vào, đi lòng vòng. Không khí trong lành nên dù đạp xe giữa trưa nắng vẫn không thấy mệt. Có nhiều nơi thảm cỏ trông y như thảo nguyên, trâu bò thủng thỉnh gặm cỏ thật thanh bình!
Tôi tìm một bóng râm vào chợp mắt một tí rồi lại tiếp tục đạp xe vào thị trấn Phonehong. Thị trấn này khá sầm uất, dọc theo đường cái là nhà hàng khách sạn cửa hiệu vô cùng tấp nập.
Trời tối dần. Hiện ra trước mặt tôi là một con dốc, đang nghĩ bụng làm sao leo nổi con dốc này thì chợt nhìn thấy bên trái đường có một lối đi vào cánh đồng lúa xanh xanh mà trước đó tôi ngắm nghía rồi nhưng không tìm được lối vào. Tôi chạy luôn vào. Đầu đường có vài căn nhà nhưng càng đi vào thì càng không thấy nhà. Tuy nhiên tôi thấy có xe máy chạy ra từ trong nên cứ đạp xe vào.
Gặp một lối đi cát trắng để rẽ vào cánh đồng. Tôi men theo. Một đồng cỏ xanh mướt. Qua khỏi đồng cỏ là một lối đi hẹp vào bờ ruộng. Trên bờ ruộng là một đống rơm có hai đứa trẻ đang chơi đùa cạnh một chiếc máy cày. Một thanh niên đang chặt cây gần đó. Tôi ra dấu hỏi nơi này cắm trại ngủ được không. Anh ta bảo được. Trong khi tôi lui cui tháo hành lý thì họ lái máy cày về nhà.
Dựng xong lều thì trời tối hẳn, tôi cầm đèn pin lội bộ ra đầu hẻm tìm nước rửa mặt. Vào một ngôi nhà sáng đèn xin nước, họ hỏi tôi gì đó, không hiểu nhưng tôi cứ nói tôi là người Việt. Một lúc sau một người đàn ông Lào biết tiếng Việt bước vào và hỏi chuyện tôi. Thì ra căn nhà mà tôi xin nước là nhà của trưởng bản, còn người đàn ông nói tiếng Việt là bố Khẳm.
|
| Sau khi chụp ảnh hai đứa bé này, tôi hạ trại trên đống rơm và ngủ một đêm thật ngon. |
Họ bảo tôi dỡ trại đến nhà họ ngủ cho an toàn nhưng tôi từ chối và nói rằng trong lều của mình tôi ngủ ngon giấc hơn. Mấy người con trai của ông trưởng thôn bảo tôi có thể cắm trại ở sân nhà họ nhưng tôi nói đã dỡ đồ dạc và dựng trại lên rồi, vả lại tôi muốn ngủ trên đống rơm cho êm lưng. Thuyết phục tôi không được nên trưởng bản nói thôi được, tôi ngủ lều cũng không sao. Chia tay họ xong tôi qua nhà bố Khẳm chơi rồi ăn tối cùng bố, vợ bố và người con cả của họ.
Tối hôm đó, tôi ngủ thật ngon và êm ái trên tấm nệm rơm này. Sau khi thu dọn, tôi lại đến xin nước rửa mặt và chia tay mọi người. Tôi qua nhà bố Khẳm chơi một tí. Do tôi từ chối ở lại chờ ăn cơm nên bố cho tôi một ít cơm nếp và 5 quả chuối để ăn dọc đường. Bố lấy chè tàu do con gái bố đi Bắc Kinh về cho ra cho tôi uống và chúng tôi xem tivi về ngập lụt ở Thái Lan. Nói vài ba câu chuyện, tôi xin phép lên đường.
Ghé quán của một mẹ, tôi mua bưởi, dưa leo, thức ăn sẵn, bánh mì, tổng cộng 11 ngàn kip; mẹ bán hàng còn tặng tôi cơm nếp để ăn. Còng lưng đạp lên xuống vài con dốc, tôi vào nghỉ ở một thảm cỏ êm mượt có chú trâu tròn ủm, thấy tôi vào, ngừng nhai cỏ tròn mắt nhìn tôi như tò mò.
Tôi đã hiểu, "đi bụi" là gì?
Ở Lào, từ 9 giờ sáng trở đi, trời nắng kinh khủng, cộng thêm đường bụi mù trời nên đi xe đạp thật khổ sở. Mồ hôi túa đầy người, tôi dừng lại ở một ngôi chùa của ni sư để tránh nắng. Một sư lớn tuổi đang ăn trưa ở trong một mái tranh sau chùa mời tôi ăn cùng. Tôi bảo nắng nóng quá nên không ăn nổi, sư bảo tôi tắm đi. Vậy là tôi không khách sáo, lấy quần áo ra tắm rửa gội đầu và giặt luôn. Tôi tặng sư bưởi và một hộp sữa Lactasoy và mặc luôn quần áo hãy còn ướt để lên đường.
|
| Ni sư già đang ăn trưa một mình trong túp lều tranh sau chùa. |
Hóa ra đó lại là một ý hay giữa thời tiết như thế. Tuy nhiên chẳng bao lâu thì quần áo cũng khô hết. Trong lúc giặt đồ do làm biếng giặt hai cái ống quần jeans đã rách nên tôi lấy kéo cắt cho nó thành quần đùi luôn. Vậy là từ quần dài, cái quần jeans đi cùng tôi 8 tháng ở Trung Quốc và 1 tháng rưỡi ở Mông Cổ trở thành quần đùi (sau này có thể nó trở thành mini skirt luôn hổng chừng).
Tôi lại đạp xe qua các thị trấn và làng mạc.
Còn khoảng 30 cây số nữa là vào Vientaine thì trời tối. Đường cái bụi mù trời nên tôi rẽ phải vào con đường nhỏ tráng nhựa để tránh đường bụi. Tôi chạy dọc theo bản ở đây để tìm nơi cắm trại. Một sân vận động có mấy đứa trẻ đang đá banh. Đối diện sân vận động là một khu đất trống đầy cây dại và cỏ. Tôi lẻn vào (nghĩa là không để ai nhìn thấy) và len lỏi qua các bụi rậm để vào sâu một tí. Vậy là tôi có một nơi vừa êm vừa yên tĩnh để cắm trại ngủ.
Tôi có một giấc ngủ thật ngon! Ở Lào, tôi luôn ngủ ngon trong lều của mình.
Sáng, trong lúc đạp xe dọc theo đường cái mịt mù bụi, tôi thấy lối rẽ vào Pat Yao. Dù chả biết đó là gì nhưng tôi vẫn rẽ vào. Đường lên dốc xuống dốc. Ngán! Đi hết 3 cây số rồi mà vẫn không thấy gì. Nản! Vậy là quay xe trở ra. Dọc đường mua thức ăn làm sẵn giá 2 ngàn kip/bịch cùng với bún và bánh mì.
Cách Vientaine khoảng 18 cây số, tôi gặp Charlie, một người Pháp, đeo ba lô đi bộ hoặc quá giang xe. Anh ta bảo muốn viết sách về hitchhiking (đi quá giang) ở châu Á; anh ta đa phần ngủ lều hoặc ngủ nhà dân hoặc ngủ ở chùa chiền, đền thờ (lúc ở Ấn độ). Quá nể các bạn nhỉ?
Khi tôi ghé vào một gốc đa ven đường để tránh nắng và ăn uống thì tôi “ngộ” ra được cách ăn ở Lào (trước giờ tôi mới biết thôi nhưng đến lúc ấy thì mới thật sự “ngộ” đấy! và khi “ngộ” ra rồi thì tôi phải công nhận rằng mức sống ở Lào vẫn rẻ hơn so với ở Việt Nam) và tôi cũng “ngộ” ra luôn được định nghĩa của “đi bụi” - đó là “đi bụi nghĩa là trở thành người bản địa ở bất cứ nơi nào mình đi qua”. Nghĩa là một người đi bụi phải “ngộ” (chứ không chỉ “biết”) cách ăn uống, ngủ nghỉ của người dân bản địa. Hơi khó đấy nhỉ!
Hai đêm ở Vientiane
|
|
|
|
| Quảng trường trung tâm thủ đô Vientiane. |
(TBKTSG Online) - Phải vượt qua một đoạn đường bụi mù mịt mới đến được Vientiane. Mà cũng thật lạ! Ở Lào trước khi vào bất cứ thành phố nào cũng phải qua một đoạn đường bụi kinh hoàng.
Tôi cứ chạy thẳng và ghé vào một ngôi chùa. Lúc ấy cũng là giờ ăn trưa. Phật tử cúng dường ngồi chờ bên dưới, các nhà sư và chú tiểu ngồi dùng bữa trưa gần bàn thờ Phật. Trong chùa mát mẻ, quạt máy mát rượi chứ không nóng bức như bên ngoài nên tôi vào trong chùa ngồi chơi với họ dù tôi vừa ăn xong.
Khi các mâm cơm được các chú tiểu bê xuống thì mọi người rủ tôi ăn chung. Tôi nói: Kinh leo (ăn rồi). Mọi người vẫn lấy chuối và củ sắn gọt sẵn trong mâm ra đưa cho tôi. Ăn xong thì mọi người cùng nhau rửa chén. Tôi hỏi họ nếu tôi muốn cúng dường cho các sư thì phải đến chùa lúc mấy giờ. Họ bảo buổi sáng thì đến lúc 7 giờ và buổi trưa là 11 giờ, buổi tối các sư không ăn.
Tôi hỏi thăm đường ra sông Mê Kông, hóa ra nó ở rất gần chùa. Tôi ra ngắm con sông thiêng của mình một chốc lại tiếp tục đạp xe vào trung tâm Vientiane. Tôi cứ một đường thẳng mà chạy, đi ngang qua quảng trường trung tâm, rồi ngang qua tòa nhà văn phòng Bộ Kế hoạch-Đầu tư, có gắn tấm biển “One-stop service” (buồn cười quá!). Tôi lại đi thẳng rồi quẹo vào ngôi làng vệ sinh kiểu mẫu. Đây là nơi dành cho du khách tham quan.
Theo mũi tên hướng dẫn đến chùa Mixay, tôi đi qua khu "Tây ba lô", kiểu như khu Đề Thám - Phạm Ngũ Lão ở Sài Gòn. Cũng cửa hàng, cửa hiệu, nhà hàng, nhà nghỉ khắp nơi. Ghé vào một nơi trông khá đẹp và lịch sự để hỏi giá, chỉ có phòng đơn 50 ngàn kip/đêm, không có dorm. Tôi chạy thẳng vì nhớ mang máng Sabaidy guesthouse, nơi tôi ở cách đây hai năm có giá mỗi giường trong phòng dorm là 20 ngàn kip, nằm đâu đó trong khu vực này.
|
| Dịch vụ "One-stop service” (?!!!) ở văn phòng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Lào. |
Tôi chạy tiếp một chút thì thấy, bên ngoài là một tiệm sinh tố (trước đây không thấy) và giá vẫn là 20 ngàn kip/dorm bed. Tôi hỏi Wi-Fi, anh chàng tiếp tân bảo họ thì không có nhưng có thể sử dụng ké quán True Coffee ở bên cạnh. Lúc ấy có một anh chàng người Nhật đang gõ gõ trên máy tính, tôi nhờ anh ta ghi ra giấy password (user name: truecoffee1; password: Vientiane). Vậy là tôi check in luôn.
Ở đây, ban đêm mới được mang xe đạp vào trong nhà nên tôi phải dỡ hành lý xuống ngoài trời nắng chang chang rồi cho xe vào mái hiên cho bớt nóng. Phòng dorm vẫn như cách đây hai năm trước. Nhưng bây giờ thì tôi biết được nguyên nhân vì sao cách đây hai năm khi dorm chỉ có một mình tôi (nằm ở một giường phía trên) và một anh chàng du khách (nằm ở một giường phía dưới); anh ta cứ “ngọ ngậy” cả đêm.
Hóa ra, lý do là các giường tầng dưới ở đây có rệp (bed bugs) nên khi thấy tôi check in một giường dưới, anh chàng người Đức - đi bụi bằng cách “ngủ trong bụi” với túi ngủ (sleeping bag) và xin quá giang xe (hitchhiking) - bảo nên đổi lại ở giường trên bởi vì giường dưới có rất nhiều… rệp. Tôi không tin, cho đến khi... nửa đêm ngứa ngáy, ngủ không yên. Lấy đèn pin ra soi, tôi thấy mấy con rệp chạy loăng quăng trên tấm drap trải giường. Gớm quá nên dù lúc ấy chưa đến 2 giờ sáng, tôi ôm máy tính ra ngoài ngồi gõ và tìm thông tin luôn. Không thể ngủ trên cái giường có mấy con rệp be bé ấy được. Tôi thức viết bài đến tận 6 giờ sáng thì máy tính hết pin mới ôm trở vào phòng, sạc pin và leo lên cái giường số 1 ở phía trên để ngủ. Giường ở trên cũng có rệp nhưng ít hơn nên vẫn ngủ được.
|
| Tấm pano này cho biết: Vientiane là một thủ đô không khói thuốc. |
Cả ngày hôm sau, tôi ở lì trong phòng với cái máy tính. Mấy người ở chung dorm bảo tôi viết chi cho cực, cứ làm như họ, chỉ cần post hình lên thôi; nếu muốn thì ghi chú thông tin, sau này viết sách bán lấy tiền; chứ vừa đi vừa viết như thế thì còn thời gian đâu mà thăm thú. Nhưng tôi vẫn viết cả ngày hôm ấy.
Chung dorm của tôi có một người đàn ông qua tuổi trung niên một tí, người Lebanon, đã ở đây một năm rồi. Không biết ông ta làm gì nhưng bảo rằng đã đi du lịch 26 năm rồi, toàn ở quanh quẩn ở 10 nước Đông Nam Á. Ông ta có cái ca nấu nước nóng; vậy là tôi mượn để nấu nước pha trà và ăn mì gói.
Cách đây hai năm khi ở Lào, tôi chả thấy cái siêu thị hay trung tâm mua sắm nào ra hồn cả, bây giờ quay lại thấy quá trời. Ngay cửa ngõ vào Vientiane từ hướng Vang Vieng là biển quảng cáo một khu mua sắm đang xây dựng với dòng chữ là "biggest and most interesting" gì đó. Ở trung tâm Vientiane, gần khu "Tây ba lô" là siêu thị Home Ideal mà tôi có vào thăm đêm đầu tiên đến Vientiane để mua thức ăn dự trữ cho hôm sau ở lì trong phòng. Gần siêu thị này là khu phố ăn đêm với rất nhiều hàng quán bán món ăn Tàu (tên các món ăn ghi cả tiếng Hoa). Tôi thấy có cả ngôi chùa ghi tên bằng tiếng Việt Nam ở gần đấy.
|
| Cổng chùa Bàng Long ở Vientiane. |
Ở hai đêm tại Sabaidy Guesthouse ở trung tâm Vientiane, với một đêm không yên giấc bởi vì mấy con rệp và một đêm ngủ khá ngon (do mệt quá); hoàn thành xong mấy bài viết; tôi check out và lên đường. Tôi không muốn đạp xe loanh quanh ở Vientiane là vì đã dỡ hành lý ra khỏi xe; tôi không thích đạp chiếc xe không có hành lý, cứ thấy… “trống vắng” sao ấy. Vả lại, có khi thấy một nơi lý tưởng muốn cắm trại thì lại phải quay về nhà nghỉ.
Tóm lại, tôi có lều có xe nên không cần lệ thuộc vào nhà trọ; cứ chất hết lên xe, loanh quanh đạp xe, thích thì dừng lại ngắm nghía và không sợ bị lạc đường, không tìm ra lối ra. Tôi là người định hướng rất dở nên thường xuyên đi lạc - thật kỳ lạ các bạn nhỉ? Đã đi bụi mà lại không có khả năng định hướng. Nếu bị lạc đường thì tôi càng thích bởi vì sẽ thấy và sẽ gặp những cái ngoài dự kiến (chỉ khi đi bụi thôi, chứ đi làm việc mà như thế thì bị đuổi sớm).
Tạm biệt Vientiane
|
|
|
|
| Đường từ Thadieu đi Buddha Park dọc theo sông Mê Kông, bờ bên kia là Thái Lan. |
(TBKTSG Online) - Tôi chỉ còn khoảng 6 ngày được phép ở Lào nên không thể tiếp tục đạp xe đi các tỉnh phía nam. Vậy là tôi phải sang Thái Lan rồi nhập cảnh trở lại Lào để đóng mộc thêm 30 ngày khác. Vì thế tôi quyết định đi Buddha Park (công viên Phật), muốn đến đó, phải đến Thadieu trước nên tôi hỏi đường đi Thadieu.
Cuối cùng cũng lần ra con đường chính mà cứ chạy thẳng con đường ấy thì sẽ đến nơi. Đang đi thì thấy cái bảng hiệu “Vietnamese restaurant”, dĩ nhiên là tôi không thể bỏ qua nên dừng lại. Nhà hàng này ghi tiếng Việt sai bét nhè. Đó là nhà hàng nem nướng.
|
| Nem nướng Việt Nam ở Lào. |
Một phần nem nướng gồm hai cái nem, bún, bánh tráng, rau sống, khế chuối chát thái nhỏ và nước chấm có giá 18 ngàn kip; gỏi cuốn 2 ngàn kip/cái; còn nhiều món khác nữa nhưng tôi không để ý. Nếu không gọi nước sinh tố thì sẽ được phục vụ một ly nước đá lạnh miễn phí. Mỗi bàn đều có một cái xe đẩy inox để bỏ rác lên chứ không vứt xuống sàn hay bỏ lên bàn.
Theo tôi nhà hàng này trông khá sạch sẽ và đẹp mắt. Có thể đó là nhà hàng của người Việt thế hệ thứ hai (có nghĩa là bố mẹ Việt di cư sang và chủ nhà hàng này được sinh ra ở Lào). Đi xa mà được thưởng thức hương vị ẩm thực quê nhà thì thật “đã ghiền” các bạn nhỉ.
Trưa hôm ấy nhà hàng này khá đông khách, có nhiều khách nước ngoài nữa. Rất nhiều người đến mua theo thức ăn mang đi (take away). Đa phần khách ở đây là những người lái xe du lịch và ăn mặc rất đẹp. Tôi là người duy nhất đi xe đạp. Trông thấy cảnh “ăn nên làm ra” ở nhà hàng Việt này, tôi cũng thấy tự hào vì món ăn Việt được yêu chuộng đến thế.
|
| Một quán ăn Việt Nam ở Lào. |
Tại nhà hàng này, “nem nướng” được dùng luôn từ tiếng Việt, không có dịch ra tiếng Anh. Vì thế khi một người khách vừa mua túi đồ ăn đem đi; tôi chỉ vào và hỏi “ni măng nhăng?” (Cái gì thế?) cô bé phục vụ bảo: “nem nướng,” phát âm chính xác đến nỗi tôi ngỡ cô ta là người Việt nhưng khi tôi nói tiếng Việt thì cô ta lắc đầu không hiểu.
Nhiều bạn bè quốc tế mà tôi gặp khi biết tôi đến từ Việt Nam thì bảo rằng phở, nem nướng, chả giò,… là những món ăn yêu thích của họ. Ít ra Việt Nam cũng có cái mà giới thiệu ra bạn bè quốc tế chứ.
Tiến về hướng Buddha Park
Từ nhà hàng nem nướng này mà đi thẳng thì trước khi đến Thadieu, các bạn sẽ gặp cây cầu Hữu Nghị Lào-Thái số 1 (Lao-Thai Friendship Bridge 1); cũng cửa ngõ quốc tế qua lại hai quốc gia này. Nếu muốn đi Thái Lan từ cửa ngõ này, thì khi nhìn thấy cây cầu trước mặt, các bạn chớ vội mà chạy đến mà hãy nhìn sang phía tay trái sẽ thấy cổng vào để làm thủ tục hải quan (từ trung tâm Vientiane đến cầu khoảng 24 cây số).
Nếu không muốn qua Thái Lan thì cứ thẳng con đường dưới cầu mà đi. Từ Vientiane, vừa băng qua cầu thì các bạn sẽ thấy ngay đập thủy điện do Việt Nam xây dựng để tặng cho Lào. Đi thẳng, cách cầu khoảng 100 mét sẽ thấy mũi tên chỉ đường vào nhà ga xe lửa (nhà ga cách đường chính khoảng 2 cây số).
Không rẽ vào ga, cứ đi thẳng thì sẽ đến Thadieu. Ở đây có chợ địa phương nằm ngay trên đường chính, bán thức ăn nấu sẵn, mỗi que thịt gà/heo nướng là 5 ngàn kip, mỗi que ngũ tạng gà như mề, gan… có giá 1-2 ngàn kip. Tôi mua một que heo nướng, một que mề, 2 ngàn cơm nếp, 3 ngàn khoai mì nướng với nước cốt dừa, 5 ngàn da heo chiên. Vậy là có một bữa ăn khá “hoành tráng”.
Bắt đầu từ Thadieu về hướng Buddha Park thì sẽ đi dọc theo con sông Mê Kông mà bên đây bờ là Lào, còn bên kia là Thái Lan; thậm chí còn nghe được cả tiếng nhạc xập xình từ bên kia sông vọng sang. Ghé vào một ngôi chùa có ghế ngồi cạnh sông, tôi thưởng thức bữa ăn. Thật ra chỗ ấy mà cắm trại ngủ luôn cũng tuyệt. Nhưng lúc đó còn sớm nên tôi lại lên đường.
Từ Thadieu đi thêm khoảng một, hai cây số đường xấu (đá đỏ và lầy lội) thì sẽ đến Buddha Park. Giá vé vào cửa 5 ngàn, camera 3 ngàn, video camera 3 ngàn kip. Theo tôi, giá vé ở Lào không đắt đỏ như ở Trung Quốc nên không đáng để trốn vé. Vả lại Buddha Park là các tượng đá khắc hình Phật cũ kỹ lâu đời với thời gian nên cũng đáng bỏ tiền để người ta có kinh phí bảo tồn. Mặt khác, tôi thấy có lý do chính đáng để du khách phải trả tiền cho máy ảnh là do ánh đèn flash có thể làm hư hại cái công trình cổ kính này. Thực ra, chỉ 3 ngàn kip là quá bèo so với lịch sử các pho tượng này.
Nếu tôi mà là quản lý ở đây thì tôi sẽ cấm chụp hình hoặc ai muốn chụp thì phải trả tiền cực đắt; vì thế chỉ ai thật sự cần mới dám chi ra nhiều tiền để có những bức ảnh, còn đám du khách nhăng nhít như tôi thì không đủ khả năng rồi. Các bạn thử nghĩ xem, chỉ vì chúng ta muốn có vài bức ảnh khoe với mọi người rằng tôi đã đến đó mà để lại hệ quả là các bức tượng cổ ấy hư hao dần theo ánh đèn flash của chúng ta thì có đáng hay không?
Nhưng một khi đã là du khách và lại có máy ảnh trong tay nên trước sau cũng táy máy chụp vài kiểu. Vì thế tôi không có ý định vào Buddha Park (lúc tôi đến đã chiều rồi nên nơi đây đóng cửa, có muốn vào cũng không được) mà chỉ muốn tìm nơi cắm trại đâu đó gần nơi ấy và bên cạnh con sông Me kong. Tôi đi vào bãi đất trống cạnh Buddha Park, và nông dân đang cày cấy bên thửa ruộng gần sông nên họ đuổi tôi ra.
Ra ngoài, tôi chạy dọc theo đường chính, hy vọng tìm được nơi lý tưởng khác. Không thấy, càng đi thì càng không thấy sông đâu cả, dù tôi có rẽ vào các ngôi làng gần sông thì các khu đất cạnh sông đầy xe cần cẩu đang khai thác cát hoặc đang cày xới làm gì đó không biết. Tóm lại là dù thấy con sông ở ngay trước mặt nhưng tôi không thể tiếp cận.
Sang các làng khác, cũng như thế. Tôi hỏi người dân địa phương đường ra sông. Họ bảo không có và nói nếu tôi muốn ngủ thì đến chùa gần đó mà ngủ.
Tá túc trong chùa làng Xiengkuane
Trời tối dần nên tôi đành bỏ ý định cắm trại cạnh sông mà vào chùa thôi. Có một ngôi chùa nhưng tôi nhìn hoài cũng không thấy cổng đâu cả. Lúc ấy nơi chánh điện có vài chú tiểu đang tụng kinh và một con chó mực đang nằm nghe. Con chó thấy tôi vào nên sủa ỏm tỏi làm cho một chú tiểu phải đứng dậy và hỏi tôi gì đó. Tôi vỗ nhẹ vào vai chú tiểu khoảng chín, mười tuổi và ra dấu đi theo mình (thật ra là tôi quên, phụ nữ không được chạm vào người các nhà sư và chú tiểu nhưng may là trước khi tôi kịp chạm vào thì chú tiểu né kịp nên bàn tay tôi chỉ phớt qua vai mà thôi).
Tôi chỉ vào bãi cỏ bên hông chùa và hỏi tôi cắm trại ở đây ngủ được không. Chú tiểu bảo không (chắc do tôi là phụ nữ). Chú tiểu nói gì đó mà tôi không hiểu. Tôi nghĩ chú tiểu không hiểu nên giải thích lại, ý tôi là chỉ cắm trại trên cỏ, có đụng chạm gì đến chùa đâu mà không được. Lúc ấy có thêm vài chú tiểu khác đến và họ tranh luận nhau một lúc thì nói được và nói tôi có thể ngủ ở chánh điện. Tôi nói tôi không cần vào chánh điện mà tôi muốn ngủ ở trên cỏ.
Tôi lui cui cắm trại, vài chú tiểu tò mò đứng nhìn, mấy chú khác thì tụng kinh. Khi tôi làm xong thì buổi tụng kinh cũng kết thúc. Vậy là họ xúm lại xem trại của tôi và bảo tôi đem trại lên chánh điện mà ngủ. Tôi cố từ chối. Nhưng hình như ông trời cũng muốn tôi ngủ ở chánh điện hay sao ấy mà đang yên đang lành tự dưng lại nổi gió và mưa.
Tôi chạy xuống thu dọn đồ và mang trại lên. Các chú tiểu phụ tôi và mang cả xe đạp của tôi lên chánh điện (thực ra tôi dự định để xe ở dưới). Thật lạ là ngay sau khi mọi thứ được mang lên thì trời hết mưa. Chẳng lẽ tôi lại mang mọi thứ xuống.
Mấy chú tiểu thích nói tiếng Anh lắm nên cứ đi theo tôi để nói. Một lúc thì mọi người cũng đi về phòng hết. Tôi lạy Phật xong thì cũng chui vào lều ngủ.
Khi ấy tôi nghe tiếng vài người đến lạy Phật, lạ một điều là tôi nghe tiếng họ ăn cơm trước tượng Phật. Chẳng lẽ người dân ở đây mang cơm vào chùa ăn hay sao?
Đèn ở chánh điện mở suốt đêm. Theo tôi thì đây đúng là một cái chùa của dân bởi không có hàng rào, không có cửa, đèn mở cả đêm. Mọi người ở đây có thể đến chùa lạy Phật bất kể giờ nào họ muốn.
Tôi để cửa lều quay ra bãi cỏ bên ngoài chứ không quay vào chánh điện bởi vì tôi sợ phải bắt gặp cảnh những người “khuất mặt khuất mày” đến lạy Phật vào đêm khuya (cái này tôi nghe nhiều người kể là họ trông thấy chứ tôi chưa tận mắt chứng kiến bao giờ các bạn nhé!).
|
| Người cúng dường bỏ dép ra và kính cẩn quỳ xuống ven đường. |
Tôi nghe có tiếng động vào khoảng 12 giờ đêm nên giậc mình tỉnh giấc (tuy nhiên vẫn không dám nhìn vào chánh điện); may là tôi cũng được trấn an bởi nghe tiếng người nhậu ở quán rượu bên ngoài. Tôi tiếp tục ngủ đến khoảng 4 giờ sáng thì mấy chú tiểu vào đọc kinh và lau dọn chánh điện. Tuy nhiên tôi vẫn nằm nướng đến 6 giờ mới dậy dọn dẹp. Lúc tôi ra giếng ngồi rửa mặt thì vị sư trụ trì ở căn phòng gần đó mà buổi tối tôi thấy đóng kín cửa, mở cửa ra và hỏi tôi có uống cà phê hòa tan không. Tôi cảm ơn và từ chối.
Khoảng 6 giờ 30 tôi nghe tiếng kẻng báo hiệu giờ đi khất thực. Chùa có khoảng 11 sư và chú tiểu. Ngoại trừ vị sư trụ trì, các vị còn lại chia thành 2 nhóm. Một nhóm 4 người đi vào ngôi làng ngay cạnh; một nhóm khác đi ra ngoài đường cái. Tôi đi theo nhóm các chú vào làng bên cạnh và chụp hình. Cảnh khất thực ở đây khác với cảnh mà tôi từng tham gia và chứng kiến ở Inlay Lake, Myanmar.
Ở Myanmar, người cúng dường bỏ dép ra và đứng để cho thức ăn vào bình bát; các sư cứ lần lượt mà đi qua, chỉ dừng lại để hé nắp bình bát thôi, sau đó lại tiếp tục đi. Ở ngôi làng này, người cúng dường, bỏ dép ra, quỳ xuống ven đường, trước khi cúng dường, họ nâng thức ăn lên ngang trán, xá rất kính cẩn. Các nhà sư sau khi nhận đồ cúng dường thì đứng sang một bên và đọc kinh cảm ơn hay chúc phúc gì đó. Trong khi sư đọc kinh thì người cúng dường rót nước từ ly hoặc chai mang theo sẵn vào một ít cơm được để sẵn ra ngoài đất. Một tay chắp trước ngực, một tay cầm nước rót.
|
| Người cúng dường rót nước từ ly hoặc chai mang theo sẵn vào một ít cơm được để sẵn ra ngoài đất. |
Theo tôi, người dân Lào rất chăm chỉ cúng dường. Họ cúng ở ngoài đường khi các sư đi khất thực. Họ mang thức ăn đến chùa và sắp vào mâm cho các sư dùng bữa; thường bữa ăn của các sư khá tươm tất do tập hợp món của nhiều người cúng dường lại.
Cách dùng bữa ở ngôi chùa làng này như sau: Cũng tương tự như ở các nơi khác. Có một người trưởng nhóm tiếp nhận thức ăn của người cúng dường và sắp vào mâm, sau đó lấy đồ phủ đậy lên mâm. Mọi người ngồi chờ giờ làm lễ.
>>> Nhấn vào đây để xem thêm ảnh.
Trước tiên các chú tiểu sau khi đi khất thực về sẽ để bình bát ngay hàng thẳng lối đối diện tượng Phật nhưng không xa người cúng dường lắm. Thức ăn được cho vào chén và sắp lên mâm. Một sư dâng mâm này lên dâng cúng Phật. Sư sãi và người cúng dường chắp tay hướng về phía Phật đọc kinh và lạy. Sư trụ trì và sư phó quay ra; các chú tiểu đọc kinh và cúi lạy hai vị này, chắc cảm ơn hai vị đã cưu mang và dạy dỗ họ. Sau đó vài chú tiểu đến mở nắp các bình bát ra. Những người cúng dường cơm nếp, quỳ gối, xếp hàng và lần lượt lấy một ít cơm từ thố mây của mình cho vào bình bát.
|
| Các nhà sư lễ Phật trước khi dùng bữa trưa. |
Các chú tiểu xuống bưng các mâm thức ăn lên. Một mâm cho sư trụ trì, một mâm cho sư phó, một mâm cho các chú tiểu lớn và một mâm cho các chú tiểu nhỏ. Người cúng dường chắp tay hướng về các sư, đọc kinh, chắc ý nói là cảm thấy hân hạnh được cúng dường.
Sư sãi chắp tay hướng về người cúng dường đọc kinh (chắc là cảm ơn họ đã cúng dường); trong lúc ấy thì những người cúng dường tay trái chắp trước ngực; tay phải cầm chai nước nhỏ mang theo rót vào ly. Các chú tiểu lấy bình bát và xoay vào mâm cơm để dùng bữa. Trong khi các phật tử ngồi chờ đợi.
Ăn xong thì các chú tiểu sắp thức ăn lại cho ngay ngắn và lấy đồ phủ đậy lên. Hai cái mâm nhựa được mang ra. Các chú tiểu cho tất cả thức ăn được cúng dường trong bình bát mà sau khi dùng bữa vẫn còn, trút ra mâm, có cả trứng gà luộc và thức ăn khác.
Sau đó các chú tiểu bưng các mâm cơm và hai mâm này xuống để chỗ những người cúng dường. Mọi người ai thích món gì thì lấy món đó cho vào làn mây của mình. Họ chia nhau cơm nếp trong mâm. Các mâm cơm dù đã có người dùng qua nhưng nhìn vẫn còn khá tươm tất. Hình như các chú tiểu được dạy các ăn uống gọn gàng như một quy tắc của nhà Phật ấy. Không có cảnh cơm rơi vương vãi, các dĩa chén thức ăn nhìn vẫn như mới.
|
| Phật tử cúng dường tại chùa làng Xiengkuane. |
Sau khi ăn xong thì mọi người lại chia nhau thức ăn thừa để mang về nhà. Vì vậy dù mang thức ăn đến cúng dường nhưng mọi người vẫn luôn có thức ăn để mang về. Chỉ khác là thức ăn mang về là thức ăn được ban phúc.
Cùng mọi người dọn dẹp xong thì sau khi họ về nhà, tôi cũng lên đường. Lúc tôi đẩy xe ra cổng thì sư trụ trì mang đến cho tôi một bịch bánh ngọt. Tôi chụp sư này một kiểu hình. Sư bảo gửi hình cho sư. Tôi không dám hứa bởi vì nơi này cách Vientiane đến 30 cây số mà xung quanh lại không có chỗ rửa hình.
Chia tay sư trụ trì, tôi lần theo lối khác để ra thì thấy cổng chùa (vậy mà tôi cứ đinh ninh là chùa này không có cổng) nằm gần đường chính, cách chùa khoảng một cây số. Lúc ấy tôi mới biết nơi này có tên là Xiengkuane. Buddha Park trong tiếng Lào được gọi là Xiengkuane; vì thế tôi không biết do Buddha Park nằm ở làng Xiengkuane nên có tên gọi ấy hay do làng này nằm gần Buddha Park mà được gọi là làng Xiengkuane.
Từ Xiengkuane, tôi đạp xe về cầu Hữu Nghị để sang Thái Lan.
Qua cầu Hữu nghị Lào - Thái
Khi tôi đến trạm hải quan cửa khẩu Lào, mấy anh gác cổng chỉ tôi vào kê khai thủ tục chung với những người có xe. Tôi là người duy nhất lái “xế điếc” qua biên giới, mọi chiếc xe khác ở đây đều có động cơ. Thấy có nhiều cửa quá, không biết cửa nào đúng nên tôi vào đại một cửa. Lúc tôi móc hộ chiếu ra thì một người đang xếp hàng như tôi nói: “passport” rồi chỉ tôi qua phía bên kia. Ở phía kia, tôi lại được chỉ vào đứng đúng ô cửa. Tất cả mọi người đều trình hộ chiếu và giấy tờ xe. Tôi chỉ đưa hộ chiếu. Anh hải quan nói gì đó mà tôi đoán là hỏi tôi giấy tờ xe đâu (bởi ai có xe mới phải xếp hàng ở đây chứ), tôi chỉ vào chiếc xế điếc của mình. Anh ta không nói gì hết, lấy hộ chiếu của tôi để làm thủ tục.
Hôm ấy có một việc khiến tôi xấu hổ ghê!
Tôi cất tiền lẻ của các nước mà tôi đã đi qua, có cả tiền Việt Nam trong ba lô đựng máy tính, buộc trong bao ny lông và ràng kỹ lưỡng nên khi gặp những người Lào muốn xem cho biết tiền Việt như thế nào, tôi thường từ chối để khỏi tốn thời gian lấy ra. Nhưng nhiều người muốn xem quá nên tôi lấy ra vài tờ kẹp vào hộ chiếu để có gì đem ra “khoe” cho tiện. Chuyện là vậy nhưng lúc anh chàng hải quan mở hộ chiếu ra thấy có kẹp tiền nên lấy đưa trả lại cho tôi. Tôi thấy mình giống như người đưa hối lộ mà bị từ chối ấy (dù tôi có muốn vậy đâu). Khi cầm tiền mà anh hải quan đưa lại, tôi xấu hổ ghê và mong rằng không có người nào đứng sau lưng nhìn thấy.
Thủ tục hải quan phía Lào khá nhanh và tôi không tốn một cắc bạc nào cả dù tất cả những người khác đều phải nộp tiền cho chiếc xe của họ; riêng chiếc "xế điếc" của tôi là miễn phí.
Đạp xe lên cây cầu Hữu Nghị (phải qua hải quan Lào xong thì mới được qua cầu), tôi thấy bảng chỉ dẫn là phải đi bên tay trái (Thái Lan lái xe bên trái). Cây cầu thật lớn và từ trên cầu nhìn xuống thấy sông Mê kong thật vĩ đại. Phân nửa cây cầu treo cờ Lào và nửa kia là cờ Thái. Tôi nghĩ bụng, nếu vậy tại sao lại phải lái xe bên trái cả cây cầu nhỉ? Nếu bên Lào lái bên phải được nửa cây cầu và qua Thái phải lái bên trái nửa cây cầu còn lại thì chắc buồn cười lắm nhỉ và làm sao mà lái? Chả lẽ đến giữa cầu lại có đường vượt cho xe lái cho đúng làn đường sao?
Cảnh bên Thái trông tươm tất hơn bên Lào nhưng kém thân thiện hơn (do cảm giác của tôi thôi). Tôi lại chạy theo các xe ô tô vào ô cửa để lấy tờ khai hải quan. Tại đây họ nhìn xế điếc của tôi và ra dấu bảo tôi qua khu vực dành cho khách bộ hành mà làm thủ tục. Do tôi làm biếng quay xe chạy trở lại khu vực ấy nên sau khi điền xong thông tin, tôi vào ô cửa của những người cần kê khai giấy tờ xe. Tôi lại xếp hàng và lại bị hỏi giấy tờ xe. Tuy nhiên ở đây, tôi chưa kịp giải thích thì người đàn ông đứng sau lưng tôi đã giải thích và chỉ vào chiếc xe đạp của tôi rồi. Anh chàng hải quan không tin nên mở hẳn cửa sổ ra để nhìn, nhìn xong, anh ta cười và nói gì đó với đồng nghiệp đứng bên cạnh.
Anh ta làm thủ tục cho tôi xong thì nói: “100 bạt” bằng tiếng Việt. Tôi hơi bất ngờ khi bị đòi phí cho xe đạp (cũng đáng đời cái tội làm biếng đi qua khu vực cho khách bộ hành) nên đứng phân vân (tiếc tiền đấy mà). Anh ta tưởng tôi không hiểu nên nói tiếng Thái: “nueng roi.” Anh chàng đứng sau lưng chìa ra tờ 100 baht ý nói trả số tiền này nè.
Đi xe đạp thì làm sao mà tốn phí được cơ chứ. Lúc ấy tôi có 6 ngàn baht (khoảng 200 đô Mỹ), tiền còn dư từ những lần đi trước. Tuy nhiên tôi không muốn tốn tiền mà đáng lẽ không tốn nên nói đại: “bo mi” (không có) và hồi hộp bởi vì có thể anh ta quy ra tiền kip và bắt tôi đóng không chừng. Anh ta ngồi lật lật quyển hộ chiếu của tôi xem các trang có đóng mộc và visa các nước khác. Trong lúc ấy, tôi phân vân không biết nếu anh ta đòi tiền kip thì có nên đưa hay không hay lại tiếp tục “bo mi” rồi mọi chuyện tới đâu thì tới (dù tôi còn hơn 300 ngàn kip cơ).
Cuối cùng anh ta hỏi tôi đi đâu; tôi nói Bangkok; anh ta hỏi đạp xe đi à. Tôi nói vâng. Anh ta cười và lắc đầu vẻ không tin. Thật may là sau đó anh ta trả lại hộ chiếu và khoác tay ý bảo tôi đi. Tôi lấy lại hộ chiếc và không nhớ ra câu cảm ơn tiếng Thái nên lên xe đi luôn.
Ra ngoài, tôi kiếm chỗ ngồi kiểm tra hộ chiếu xem các con mộc đã đủ chưa và cất tiền kip vào, lấy tiền Thai baht ra. Tôi theo bảng chỉ dẫn mà đạp xe vào thị trấn Nong Khai của Thái Lan.
9 ngày vòng sang Thái
|
|
|
|
| Cổng chào ở cửa ngõ thị xã tỉnh lỵ Nong Khai, miền Bắc Thái Lan. |
(TBKTSG Online) - Do hết hạn cư trú 30 ngày, tôi cần phải rời nước Lào rồi nhập cảnh trở lại để có con dấu cho phép thời hạn 30 ngày tiếp theo. Đó là lý do tôi phải tạt sang Thái Lan sau khi rời Vientiane, sau đó sẽ quay lại và đi về phía Nam Lào.
Thái Lan là một đất nước làm du lịch cực kỳ thành công. Có thể vì nhiều lý do mà Thái Lan luôn trở thành điểm đến của mọi du khách khi nghĩ đến châu Á. Nhưng có thể thấy rõ là họ đã tạo cho du khách cảm giác như ở nhà khi đến đất nước họ. Bạn muốn không khí hiện đại như châu Âu, châu Mỹ ư? Thái Lan sẵn có. Hay muốn không khí truyền thống của Á châu? Bản sắc truyền thống dân tộc Thái thể hiện rõ nét khắp nơi và trên mọi lãnh vực.
Diện tích Thái Lan không lớn lắm so với Việt Nam và rất nhỏ so với Trung Quốc nhưng quyển sách hướng dẫn du lịch Lonely Planet của Thái dày tương đương quyển sách hướng dẫn du lịch Trung Quốc. Trong forum Thorn Tree của Lonely Planet trên internet thì Thái Lan được dành hẳn một mục trong khi các nước khác phải ghép với nhau. Ví dụ như Trung Quốc, Nhật, Hàn, Mông Cổ xếp chung trong mục Đông Á; Việt Nam, Myanmar, Lào và Cambuchia nằm chung trong mục Đông Nam Á đất liền,… Trong khi Thái Lan được xếp riêng một mục hẳn hoi. Điều đó chứng tỏ lượng người quan tâm và đến Thái Lan không hề nhỏ.
Đến Nongkhai
|
| Chánh điện chùa Pochai ở Nongkhai. |
Ở Thái Lan phải chạy xe bên tay trái nên không dễ chạy tí nào; phải chú ý và tập trung thì mới đi đúng đường; nếu không thì lại theo quán tính chạy bên phải. Có khi mãi nhìn các cửa hiệu, tôi đi bên phải đường lúc nào không hay và mấy xe khác ra dấu cho tôi đi đúng đường.
Đạp xe từ từ dọc theo con đường chính, tôi thấy bảng chỉ đường Udon Thani. Tôi theo hướng dẫn rẽ vào cổng chào của thị xã Nongkhai. Tôi đạp xe ngang qua một ngôi chùa khá lớn nên tò mò dừng xe vào xem và thấy hơi lạ lẫm với kiểu bố trí và số lượng các tòa nhà ở đây. Có lẽ do tôi đã quen với bố cục đơn giản ở các vùng quê Lào rồi.
Nhìn quanh chẳng thấy ai, tôi đi thẳng ra sau, nơi các chú tiểu đang quét dọn sân chùa và có một người nước ngoài đang tưới cây. Tôi bắt chuyện. Ông ta nói đã ở Thái Lan 5 năm rồi và ở Nongkhai 2 năm; hiện ông làm trợ lý cho sư trụ trì chùa này. Khi biết tôi đi xe đạp, ông ta nói tại đây cũng có một du khách nước ngoài đang đạp xe vòng quanh thế giới và đang lưu trú tại chùa này được 10 ngày rồi. Nhưng do tôi là nữ nên không được phép ở lại trong chùa!
|
| Mặt trước chánh điện chùa Pochai ở Nongkhai. |
Ông ta giới thiệu cho tôi biết về tổ chức Isara (www.isara.org) do một người Mỹ yêu mến Thái Lan nên ở lại đây và mở lớp dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ em và người lớn. Người dạy là những tình nguyện viên đang đi du lịch như tôi; họ có thể ở miễn phí tại đây. Bù lại mỗi ngày họ bỏ ra một (vài) giờ đồng hồ để dạy. Có người chỉ ở vài ngày hoặc một tuần, nhưng cũng có người ở luôn cả vài tháng. Trụ sở của Isara ở gần bệnh viện Nongkhai. Ở đó có cả máy tính nối mạng và Wi-Fi. Ngoài các lớp tiếng Anh còn có các lớp dạy vẽ và khiêu vũ. Tóm lại tùy vào việc các tình nguyện viên có thể phụ trách về lĩnh vực gì. Họ hoạt động bằng cách thu hút tiền đóng góp của các tổ chức từ các nước.
Đây là nơi thu hút khách du lịch đến từ khắp nơi nên rất khó vào ở các bạn nhé. Thường họ đăng ký trước qua mạng và hầu như các phòng ở đây luôn đầy người tình nguyện ở. Khi tôi đến thì không còn giường nào cả, tôi hỏi cắm trại ở ngoài sân được không thì anh chàng Kirt người Mỹ, sáng lập viên, bảo không được vì trông nhếch nhác lắm, đây là nơi học viên ra vào thường xuyên và các nhà tài trợ có thể đến thăm bất cứ lúc nào và họ sẽ không muốn trông thấy như thế.
Vậy là tôi “không có số” được ở đây rồi. Hết chỗ ở lại không được cắm trại, tôi đi ra bờ sông tìm chỗ khác. Ở Thái, dọc theo bờ sông đều có xây bờ kè bằng xi măng, dù có tam cấp dẫn xuống nhưng khó dắt xe đạp theo. Cuối cùng tôi cũng “địa” được một nơi.
Tôi dự định chạy lòng vòng xem và ăn uống đến khi trời tối thì quay lại đó cắm trại. Lúc này ở lề đường, các quầy bán thức ăn sẵn đã được dọn ra. Tôi ghé mua một ly sữa trân châu giá 15 baht, khá ngon. Thức ăn Thái vừa ngon vừa rẻ. Với 1 đô Mỹ, bạn luôn được ăn no bụng ở Thái, trong khi ở Trung Quốc cũng có thể no bụng nhưng chủ yếu là do nhiều mì chứ ít thịt, còn ở Lào thì hầu như không ăn được gì ra hồn mà no bụng.
Lòng vòng một hồi thì thấy “Hội người Việt Nam Nongkhai” nằm cạnh một cửa hàng tạp hóa của một đôi vợ chồng người Việt thế hệ thứ hai, tôi đã có lần gặp và nói chuyện với họ. Đối diện tiệm tạp hóa là một con đường nhỏ, lần theo nó sẽ gặp một ngôi chùa khá lớn, đi thẳng thì Sawaidee guesthouse nằm ở đối diện. Tôi vào hỏi giá thì phòng đơn quạt máy có giá 180 baht (khoảng 6 đô Mỹ), không đắt lắm bởi theo tôi biết thì nơi này khá thoải mái, sạch sẽ, đẹp đẽ, gần sông và lại ở ngay trung tâm. Tuy nhiên tôi không ở mà đi tìm nơi rẻ hơn.
Gặp đồng hương ở Nongkhai
Có lần đi qua một con đường, tôi thấy một mẹ ngồi bán chuối trước cửa nhà, tôi dừng xe và hỏi giá. 10 baht/nải. Tôi mua hai nải và còn được tặng thêm một nải nhỏ xíu nữa. Mẹ ngồi với một phụ nữ khác có tên là Soang La. Khi tôi vừa dừng xe, chị ta hỏi ngay: người Việt phải không? (Nhiều người tưởng tôi là người Philippines nhưng chị này đoán trúng tôi là người Việt mới ghê). Tôi ngồi nói chuyện với họ bằng tiếng Lào bập bõm. Mới ở Thái mấy ngày nên tôi chưa nhớ ra những từ Thái mà tôi biết trước đây. Do đây gần biên giới Lào nên họ hiểu tiếng của nhau hết.
Đang nói chuyện với chị Soang La thì có một phụ nữ Thái gốc Việt đến và khi biết tôi là người Việt, chị hỏi luôn: “Ăn cơm chưa?”. (Vui thiệt! Người Việt gặp nhau thường hỏi “Ăn cơm chưa?” như một lời chào). Bà này quê gốc ở Nam Định, thỉnh thoảng có về Việt Nam thăm họ hàng. Lát sau lại có một phụ nữ gốc Việt khác đến mua chuối, hỏi tôi ở đâu và bảo tôi đến nhà chị ta mà ở cho an toàn. Chị ta nói trước đây có mấy nhà sư Việt Nam sang cũng ở hết cả nhà chị ta nhưng bây giờ họ về nước rồi.
|
| Những người bán vé số ở Nongkhai, Thái Lan. |
Chị ta chạy xe máy chở con gái chạy trước chỉ đường cho tôi biết nhà chị ta ở đâu. Đó là căn nhà ba gian. Chị ta ở một mình ở gian giữa. Gian đầu là dành cho vợ chồng người con trai. Chị ta nói nếu chưa đi vội thì đến đó ở cho an toàn. Chị này quê gốc cũng ở Nam Định.
Được người Việt đối đãi tử tế ở nước ngoài cũng thấy vui hơn các bạn nhỉ? Hôm tôi đầu tiên tôi đến Isara, anh chàng Kirk có nói với tôi rằng người Việt ở Nongkhai đông lắm, thế nào tôi cũng được ai đó cho ở nhờ nhà họ.
Hầu như trưa nào tôi cũng ôm máy tính đến Isara cả nên những người ở đó quen mặt tôi luôn. Cô gái quản lý người Thái luôn giới thiệu tôi với những người tại đây nhưng tôi chả nhớ nổi tên họ. Anh chàng người Argentine ở đây 5 tháng rồi, chuyên lo về mảng mạng máy tính cho trung tâm. Anh ta có visa Thái 3 tháng, sau đó đi Việt Nam rồi trở về Thái. Ngoài ra còn nhiều người khác nữa, nói chung họ đều là những người tốt. Có vài cô gái vốn là dân châu Á nhưng lại có quốc tịch và sống lâu năm ở châu Âu hoặc Mỹ nên có tính cách người châu Âu hết rồi. Thật lạ là rất nhiều tình nguyện viên ở tại Isara là người Mỹ đấy!
Thấy tôi xách máy tính đến trung tâm hoài, Kirk hỏi tôi còn ở lại Nongkhai bao lâu. Tôi nói có thể tôi không ở lâu đâu bởi vì tôi đã quyết định sẽ không đi Bangkok thẳng từ đây mà sẽ quay trở về Lào và đi về phía nam.
Bun Ka Thin - Ngày hội đậm chất nhân văn
Sáng ngày 5/11/2011, tôi lại đạp xe một vòng và ra bờ sông. Từ xa đã thấy xe hơi đậu hàng dài cả hai lề ngay trước cổng một ngôi chùa. Đoạn đường trước mặt tôi đông ngẹt người, hai bên là các gian hàng.
Ban đầu tôi tưởng là ngôi chùa nọ hôm nay có lễ lạt gì nhưng sau biết là ở Thái, vào một vài dịp đặc biệt, người ta cúng dường bằng cách bỏ tiền ra nấu thức ăn miễn phí cho người dân. Lúc tôi đến thì cũng hơi muộn nên chỉ còn vài gian hàng. Tôi tranh thủ lạng qua đây lấy một chén chè, lạng qua kia lấy dưa hấu cắt sẵn. Lạng qua lạng lại một lát, tôi no bụng. Cuối cùng lạng đến gian hàng hủ tiếu xào của nhóm người Việt.
Ăn no bụng rồi tôi mới hỏi họ, đây là hội gì? Họ nói gì đó tôi chả hiểu. Họ bảo thông cảm hủ tiếu xào hơi ngọt, bởi đó là khẩu vị của người Thái. Thường người dân Thái ăn món này với gỏi đu đủ. Tôi cầm trên tay cả hai món nhưng bó tay với món gỏi bởi vì nó cay quá. Họ chỉ tôi đến gian hàng nước đỏ đỏ giống nước xí muội cũng của người Việt và bảo tôi nói tiếng Việt luôn. Tôi xin luôn hai ly uống và nói tại gỏi cay quá. No bụng rồi, tôi đi vào bên trong. Không hiểu sao có nhiều bàn với đồ vật và cây tiền thế. Người dân đi qua các bàn này và cho tiền vào khay.
Dù chẳng hiểu gì tôi cũng hăm hở đi… ngược chiều với họ và chụp hình. Đến gian hàng đánh số 53 tôi nghe hai cụ nói chuyện tiếng Việt, tôi dừng lại để hỏi hai cụ đây là lễ gì. Trong bụng thầm nghĩ: Con được ăn no bụng rồi vẫn không hiểu ra đây là lễ hội gì. Một cụ bảo, đây là lễ hội Bun Ka Thin, mỗi năm tổ chức một lần trên khắp Thái Lan, chỉ diễn ra trong vòng một buổi sáng, trước lễ hội Loy Krathong vài ngày (năm nay Loy Krathong diễn ra trong hai ngày, 09 và 10 tháng 11).
Bun Kathin nghĩa là cây tiền. Khắp mọi tỉnh thành, các chùa (wat) từ các ngoại ô, ngoại thành hoặc vùng sâu vùng xa, tập hợp về thành phố. Năm nay có 53 chùa tập trung về Nongkhai. Ban tổ chức sắp cho mỗi chùa một cái bàn, phía trước là một miếng vải màu vàng ghi tên chùa. Người dân chỉ việc đi dạo một vòng, cho tiền vào khay thì xem như đã cúng dường cho 53 chùa trong vòng vài phút. Người dân từ mọi vùng sâu xa đổ về để cúng dường. Hèn chi xe đậu dài cả mấy cây số.
Một nhóm khác cúng dường bằng cách nấu thức ăn miễn phí cho người di dự lễ hội khắp nơi đổ về. Khi nói chuyện với các chị người Việt, họ bảo ai muốn nấu món gì cũng được.
Người trong ban tổ chức chia ra ngồi ở các bàn để nhận quà và tiền cúng dường của Phật tử, các ni sư không cần phải làm việc này. Nhiều bàn để các thân cây chuối, người dân cài tiền vào các nhánh tre rồi cắm vào thân cây chuối luôn. Chắc vì thế mà lễ hội được gọi là Bun Kathin, nghĩa là cây tiền chăng?
Tạm biệt đất Thái, trở sang Lào
Từ chỗ hội Bun Kathin về, tôi đạp xe một vòng Nongkhai trước khi đến Isara. Nhờ mấy ngày đến Isara, sục sạo vào mạng nên tôi biết giò lụa do người Việt sống tại Thái Lan làm rất được ưa chuộng trên đất nước này. Người Thái gọi nó là “mu dò” (“mu” nghĩa là thịt heo, “dò” lấy luôn từ “giò” của tiếng Việt). Có gia đình trở thành giàu có nhờ sản xuất món giò lụa này. Mu dò được người Thái ăn với hủ tiếu hay bún hoặc ăn không với nước mắm. Ở Nongkhai, chợ Thasadej bán món này khắp nơi, giá 25 baht/cây. Ngoài món mu dò này, các món bún, hủ tiếu... do người Việt di cư sang Thái phổ biến được du khách khắp nơi đến đây yêu thích.
Tôi phân vân không biết nên quay về Lào trước lễ hội Loy Krathong hay không? Đó là một lễ hội diễn ra vào đêm trăng tròn tháng 12 theo lịch Thái. Theo dương lịch, ngày lễ này thường rơi vào tháng 11. Đêm đó, người ta thả trôi những chiếc bè (krathong) - thường được kết bằng thân cây chuối - có đặt đồ cúng lên trên như trầu cau, hoa, nhang, nến, tiền xu và thực phẩm. Suốt đêm trăng tròn, người Thái thả các chiếc bè này xuống sông, kênh rạch hoặc ao hồ. Lễ hội này có nguồn gốc từ xa xưa, nhằm thể hiện sự tôn kính đối với các thần sông.
Năm ngoái, tôi đã dự lễ hội này ở Bangkok ( http://www.thesaigontimes.vn/tinanh/43864/); năm nay tôi muốn xem thử ở địa phương khác có gì vui hơn không? Nhưng cái máu phiêu lưu sau mấy ngày bị kìm hãm ở Nongkhai rồi nên giờ chỉ muốn đạp xe lên đường thôi. Tôi quen với việc di chuyển thường xuyên rồi nên nếu ở một nơi chỉ một tuần thôi cũng đủ làm tôi “cuồng chân.” Thật khổ!!! Không hiểu sau này, khi hết tiền, phải quay về với cuộc sống bình thường, tôi làm sao có thể thích nghi trở lại đây?!
Trở lại Lào
|
|
|
|
| Ngoi tháp hình búp sen ở That Luang. |
(TBKTSG Online) - Lúc tôi lên đường đã gần 4 giờ rưỡi chiều rồi. Tôi ung dung đạp xe đến cầu Hữu Nghị. Xe cộ đang đậu một hàng dài, thì ra là tàu hỏa quốc tế Lào - Thái đang qua cầu nên các loại xe đều phải chờ. Tôi dựng xe bên ngoài để vào trạm cửa khẩu Thái Lan làm thủ tục.
Sang cửa khẩu phía Lào, lại được chạy xe bên phải đường. Tôi vào quầy làm thủ tục dành cho khách bộ hành. Vì không biết lấy cái phiếu nhập cảnh (arrival form) ở đâu để điền nên tôi xếp hàng đại và khi đến lượt tôi thì chìa sổ ra. Đóng mộc xong rồi mới phát hiện tôi không có cái phiếu nhập cảnh, anh chàng hải quan đưa cho tôi một tờ và bảo điền xong thì quay lại nộp cho anh ta. Công nhận dân Lào dễ thương ghê. Ở Việt Nam mà như vậy, thế nào tôi cũng bị mấy bác hải quan quát cho tơi bời hoa lá luôn rồi.
Trên đường trở lại Lào, tôi ghé vào Buddha Park ngủ lại một đêm trong ngôi chùa trước đây tôi đã từng tá túc và cũng để tặng hình cho nhà sư trụ trì chùa này. Ông tỏ ý rất thích thú khi nhận được hai tấm ảnh và còn cảm ơn tôi bằng tiếng Anh nữa đó. Tôi còn lấy hai cây giò chả mua ở Nongkhai lên đưa cho mấy người phụ nữ đang sắp mâm cơm trưa hôm sau.
Lần này có thêm một sư già và một sư trẻ. Tôi đoán chắc họ là khách từ chùa khác đến bởi vì họ ngồi ngang hàng cùng với sư trụ trì và sư phó; nhưng hai người họ ăn cùng một mâm chứ không ăn riêng như hai vị kia. Hai sư này ăn xong thì xuống hỏi chuyện tôi. Sư trẻ nói tiếng Anh; sư già nói tiếng Việt.
Hình như người Lào ở đây không thích ăn nem hay giò chả hay sao ấy mà tôi thấy mấy khúc chả giò của tôi hầu như không ai đụng đến; có người cúng dường hai cây nem cũng không ai ăn; chỉ có tôi và một thằng nhóc 4 - 5 tuổi ăn thôi. Mà lạ cái là họ không lấy dao cắt ra cho dễ ăn, họ lấy muỗng xắn từng khúc và cho vào chén rồi sắp vào mâm. Làm thế ai mà dám ăn kia chứ. Tôi cũng không biết ăn như thế nào thì mẹ của thằng nhóc cầm lấy một khúc và xé ra cho nó ăn. Trời, lần đầu tiên trong đời, tôi được chứng kiến kiểu ăn chả giò bằng cách dùng tay xé ra ấy.
That Luang
Ăn xong, tôi thong thả đạp xe về hướng Vientiane. Tôi đi theo mũi tên chỉ để ra quốc lộ Nam 13 và đi ngang qua That Luang. Trước đây tôi có đến đó rồi nhưng lúc ấy không có đem theo máy ảnh nên bây giờ tôi định chụp vài pô cái tháp có hình búp sen này. Tôi loanh quanh chụp hình chứ không vào trong tháp. Phụ nữ phải mặc xà rông mới được vào bên trong; nếu không có thì thuê giá 10 ngàn kip ở một quầy gần cổng ra vào.
|
| Trong ngôi chùa ở That Luang, đông đảo phật tử tập trung về đây dự lễ. |
Ở That Luang có một gian nhà dành cho các sư nghỉ ngơi, nền lát gạch bông, trên có quạt trần. Nửa gian, nơi gần tượng Phật là các sư nam; nửa còn lại dành cho các sư nữ và dân thường. Có cả nước uống và mấy cái mâm để ai muốn dùng để thức ăn lên ăn thì tùy.
Quần áo các sư phơi đầy sân sau, như vậy chắc nhiều người đến trước vài ngày rồi và ăn ở đó để chờ lễ luôn. Hôm ấy mới có ngày 13 âm lịch thôi; nghe nói lễ hội diễn ra trong 3 ngày 13-14-15 âm lịch và ngày 15 là ngày lễ chính, nên người đi dự rất đông. Một chị bán kem người Quảng Bình bảo tôi rằng hôm đó là lễ bạc gì đó của người Lào.
Lúc đó là giờ nghỉ trưa nên cũng không có gì để xem, ngoại trừ mấy du khách nước ngoài xách máy ảnh dạo qua dạo lại. Tôi chạy ra ngoài và theo thẳng hướng quốc lộ Nam 13 mà đi. Dọc hai bên đường của quốc lộ Nam 13 là các nhà hàng cửa hiệu của người Việt. Hai bên đường toàn là ruộng lúa đã gặt xong nên chỉ còn gốc rạ hoặc các đống rơm hoặc các đồng cỏ; vì thế tìm một nơi cắm trại không hề khó.
Đường về Pakse
Từ Vientiane đến Pakse là 678 cây số. Ra khỏi Vientiane được khoảng 40 cây thì trời bắt đầu tối. Tôi ghé vào một đồng cỏ; chạy thẳng vào trong để xa tiếng xe ngoài đường lộ thì thấy một đống rơm nằm cạnh một mảnh ruộng; nguyên khu đất mênh mông mà chỉ có một miếng được sử dụng trồng lúa thôi, còn lại là bỏ hoang cho cỏ mọc.
Tôi lấy rơm trải bên dưới nơi định dựng lều thật dày. Chỗ gối đầu, tôi nhồi thật nhiều rơm cho cao, nghĩ bụng phen này sẽ ngủ thật ngon trên lớp nệm rơm và gối rơm và dù có mưa cũng không thể thấm ướt lớp rơm dày cộm bên dưới.
Xong việc lo chỗ ngủ, tôi vào nhà dân gần đấy xin nước uống và rửa mặt; họ ngạc nhiên hỏi tôi ngủ ở đâu. Tôi chỉ về hướng đống rơm và nói cắm trại ngủ ở kia. Mục đích của tôi là nếu có chuyện gì thì tôi la lên, họ biết phía ấy có người ngủ mà chạy đến cứu giúp.
Quay về lều, tôi lấy một cây giò chả và một quả dưa leo ra đánh chén. Ngoại trừ bữa ăn sáng ở chùa, cả ngày tôi toàn ăn xoài và quýt nên bụng đói ngấu. Ăn xong, tôi chui vào lều nằm xuống lớp nệm rơm êm ái chờ trăng lên, nhưng mây đen che khuất nên không thấy trăng được. Lúc ấy mới có khoảng 8 giờ tối thôi. Ở Lào lâu, tôi có thói quen ngủ sớm dậy sớm như người Lào luôn. Do tôi đi xe đạp và cắm lều nên phải tìm nơi cắm trước khi trời tối hẳn. Khi cắm xong thì tối thui, chỉ dám đi xin nước uống hoặc rửa mặt thôi. Đi lung tung, chó đớp cho một phát thì sao? Nếu không thì sủa om sòm, người dân lại đổ ra xem... tôi thì coi như hết yên thân.
Trái với mong đợi của tôi, tôi không ngủ ngon tí nào. Cứ tưởng ở xa đường cái thì yên tiếng xe nhưng nào ngờ nơi tôi cắm trại lại nằm ngay trên con đường nhỏ dẫn vào nhà dân ở bên kia, vậy là thỉnh thoảng có tiếng xe máy pha đèn sáng trưng ngang qua lều của tôi. Đã vậy, trăng bị mây lúc che lúc không, lúc ẩn lúc hiện làm mấy cái cây nằm trơ trọi giữa đồng cũng lúc ẩn lúc hiện nên tôi sợ ma, không ngủ được.
|
| Từng đoàn xe kéo về Vientiane dự hội, trên xe trang trí đầy màu sắc và có cả nhạc mở ầm ĩ. |
Chưa hết! Giữa đêm trời mưa, tôi vẫn còn hai cái ba lô cột ngoài xe, do làm biếng mang vào nên sợ chúng bị ướt, tôi phải rút một cái áo mưa lót dưới lều lên trùm thêm lên ba lô (dù cả hai ba lô được cho vào bao ny lông cả rồi nhưng do bao có vài chỗ thủng nên tôi sợ nước mưa thấm vào); tôi lấy dù ra che cho cái rổ xe với vài vật dụng bên trong cho khỏi ướt. Tưởng như thế có thể thưởng thức giấc ngủ trong tiếng mưa rơi, ai dè... không hiểu sao nước mưa lại thấm được qua lớp rơm dày bên dưới. Vậy là tôi lại lo đồ để trong lều bị ướt, tôi phải trùm áo mưa vào người mà nằm ngủ. Gần sáng khi tạnh mưa mới chợp mắt được đôi chút.
Sáng, tôi dọn dẹp xong thì đẩy xe đi luôn chứ làm biếng ghé nhà dân xin nước rửa mặt. Lúc sau, đi ngang qua một ngôi chùa đang xây dựng, thấy một cái vòi nước phun khá mạnh, tôi ghé vào rửa mặt đánh răng rồi lên đường.
Vừa đạp xe, tôi vừa tìm thức ăn. Tôi mua luôn 4 cái bánh chiên giá 1 ngàn kip/cái, hai chai nước suối kiểu Lào giá 1 ngàn kip/chai (ở phía Bắc Lào, 1 chai nước này có giá 2 ngàn kíp); ngoài ra tôi còn ghé một cái chợ nhỏ mua một nải chuối cau, 3 ngàn kíp. Ở Lào, mấy cái chợ nhỏ bán thức ăn sẵn rẻ hơn mấy cái chợ ở các thị trấn lớn. Có thức ăn sáng rồi, tôi ung dung tìm nơi có bóng mát để thưởng thức.
Ngôi chùa Phabat-Phonsanh nổi tiếng
Tôi thấy xe chạy từ các vùng ngoại ô về Vientiane dự lễ hội khá nhiều; có xe chạy cả đoàn, giăng biểu ngữ và mở nhạc ầm ĩ. Trên xe là tượng Phật hoặc các mấy món được làm từ thân cây chuối hoặc lá chuối cùng người dân ăn mặc đẹp đi dự lễ hội.
|
| Bản Na, nơi có dịch vụ cưỡi voi dạo chơi và du khách có thể ngủ lại trong nhà dân. |
Đến trưa thì tôi ghé vào một quán ăn tô phở giá 10 ngàn kíp, chả ngon tí nào; sau đó tôi ghé vào một bản ven đường mua 5 ngàn kíp/2 khúc cá chiên và 2 ngàn cơm nếp; thực ra nơi này không có bán cơm nhưng do tôi muốn mua nên họ lấy cơm nhà ra bán luôn. Vừa ăn phở xong, vậy mà tôi lại thấy đói nên lấy cơm ra ăn với cá và thêm một khúc giò chả.
Cách Vientiane khoảng 80 cây số là bản Na, nơi này có tháp để xem voi (elephant watching tower), nếu muốn ngủ ở bản thì có dịch vụ homestay. Khu vực này còn nhiều voi nhưng du khách không được tự tiện vào rừng mà bắt buộc phải mua giấy phép và phải thuê hướng dẫn viên trong bản để dẫn đi.
Tôi đi loanh quanh xem xong thì quay ra ngôi chùa ở đầu đường vào bản. Đó là Phabat-Phonsanh - ngôi chùa nổi tiếng vì có bàn chân Phật và có một toà tháp cổ kính. Tôi vào xin phép dựng trại để ngủ. Các chú tiểu chỉ tôi ra ngoài một tòa nhà nơi mà các Phật tử cúng dường thức ăn.
Hình như hồi sáng ở chùa này có lễ hội gì hay sao ấy mà tôi còn thấy dấu tích lễ hội khắp nơi. Ngay gần cổng chính là mấy gian hàng bán đồ lễ Phật. Chỉ còn một gian hàng thôi, mấy gian khác dọn dẹp rồi, hình như có cả cúng dường thức ăn miễn phí cho người đi lễ nữa. Tôi đoán chắc là lễ bạc gì của họ rồi, nơi tổ chức lớn nhất là ở That Luang ở Vientiane; các nơi khác làm nhỏ hơn; do chùa này khá lớn, vẫn còn dấu tích bàn chân Phật nên cũng tổ chức khá lớn.
Lúc ấy bà cụ bán hàng dọn dẹp gian hàng và đang lễ Phật. Một chú tiểu đến nói với bà ta chắc ý là cho tôi ngủ nhờ nhà. Tôi nghe bà ta đáp: baw (không); chú tiểu cố thuyết phục nhưng bà ta vẫn nói: baw. Tôi nói với chú tiểu rằng tôi có lều nên có thể căng lên ngủ. Bà ta nghe nói thế nên bảo tôi qua nhà bà ta ở cạnh chùa để ngủ ngoài sân có cổng rào. Bà ra nói trong lớp rào thì an toàn hơn; bà ta ra dấu ý bảo ngủ ở ngoài dễ bị "cắt cổ".
Tôi từ chối, đi trở về, lại dãy hành lang gần đấy, căng lều lên ngủ. Tôi muốn ngủ ở chùa để ngắm trăng và tòa tháp cổ; nếu ngủ ở trong tòa điện nơi người dân đến cúng dường thức ăn thì không thể “nướng” được.
Tôi tìm được một nơi rất lý tưởng. Hành lang dài và rộng, lót gạch bông nên không sợ mưa hay sương. Ngay bên ngoài là một cái vòi nước, tôi có thể rửa mặt đánh răng, giặt đồ mà không cần phải đi đâu. Vậy là tôi dỡ hành lý xuống, lấy dây ra căng để phơi đồ. Do nơi này xa nơi các chú tiểu ở nên tôi thấy rất thoải mái, muốn làm gì cũng được.
Trời sập tối, lúc tôi chuẩn bị tắm thì trời mưa, mưa rả rích suốt mấy tiếng. Tôi lui cui dọn dẹp xong thì tắm mưa luôn. Sau đó chui vào lều thay quần áo và bắt đầu ngủ. Tôi để cửa lều nhìn về hướng tòa tháp cổ. Trời mưa nên không thấy trăng đâu hết nhưng đó là một đêm yên tĩnh, lãng mạn, phải nói là vô cùng tuyệt vời đối với tôi. Tôi đánh một giấc ngủ ngon chưa từng thấy.
Một đêm đáng nhớ ở bản Na Khua
|
|
|
|
| Bảng chỉ dẫn lối vào thác Tad Leuk và thác Tad Xai. |
(TBKTSG Online) - Trên đường đi, tôi thấy một ngã ba có bảng chỉ đường vào hai thác nước, chỉ khoảng 10 cây số từ đường chính. Đường lên xuống dốc y chang đoạn đường mà tôi đi từ Luang Prabang đến Vang Vieng, dù không cao bằng nhưng tôi oải mấy cái dốc quá rồi. Tôi dừng lại để ăn lấy sức. Chả lẽ bỏ cuộc quay ra. Tôi nghĩ bụng thôi vào đó cắm trại ngủ cũng được.
Ngủ rừng - phải đóng phí!
Vừa chạy vừa đẩy xe lên dốc đi khoảng 8 cây số thì đến một ngã ba. Tại đây rẽ trái thì đến thác Tad Leuk, rẽ phải thì đến thác Tad Xai. Cả hai thác này đều cách ngã ba 10 cây số. Thấy đường đến thác Tad Leuk có vẻ đẹp hơn nên tôi chọn đi thác này. Thì ra đó chỉ là quảng cáo thôi. Đi khoảng ½ cây số thì cũng là đường đá đỏ giống như đường đi thác Tad Xai. Lại lên xuống dốc khoảng 5 cây thì đến một trạm kiểm soát.
Thật ra lúc tôi đến, họ không để ý nên tôi có thể lẻn qua luôn nhưng do tôi đứng lại đó chụp hình nên họ gọi tôi vào nói tiếng Lào. Nếu tôi biết tiếng Lào thì chỉ phải đóng 2 ngàn kíp thôi nhưng họ thấy tôi cứ đực mặt ra nên gọi một anh chàng biết tiếng Anh ra. Anh ta chỉ lên bảng giá. Người Lào 2 ngàn; người nước ngoài 5 ngàn, xe máy, 5 ngàn, xe ô tô 10 ngàn… Chẳng thấy giá cho xe đạp đâu cả.
Anh ta hỏi tôi, vào tham quan rồi về hay ngủ lại. Tôi hỏi, có cắm trại được không. Anh ta nói được nhưng phải trả tiền, bởi vì đây là rừng quốc gia. Tôi hỏi trả bao nhiêu, anh ta bảo không biết, vào trong thác hỏi người quản lý. Sau đó anh ta đổi ý, nói tôi mua vé ở đây, rồi chỉ vào đó trình vé thôi, không phải trả tiền gì hết. Tôi chờ họ đưa vé. Vé thì có sẵn mà chả hiểu họ làm cái quái gì mà tôi phải chờ đến gần 10 phút mới ra đưa cái vé giá 35 ngàn kíp. Tôi tròn mắt, hỏi cái quái gì đây. Họ bảo giá trọn gói, bao gồm tiền người, tiền xe, tiền ở. Tôi bảo xe đạp chứ có phải xe máy đâu mà trả tiền xe. Ghét! Tôi nói cảm ơn rồi lên xe đạp ra.
|
| Một quan bên đường bán các loại khô cá và giò lụa. |
Dù tôi không vào thác nhưng không khí ở đây quả là trong lành, ngoại trừ mỗi khi có xe chạy qua, bụi đỏ tung mù mịt mà thôi. Tôi nghĩ bụng, tự nhiên vào gần thác nước cắm trại phải tốn tiền. Tôi cắm đại ở ngoài đây, cũng là rừng quốc gia thì có tốn đâu. Thật ra tôi thấy họ làm đúng, bởi họ phải quản lý số người ngủ đêm tại rừng để phòng nguy cơ cháy nổ nữa chứ. Nhưng tôi mất hứng cắm trại ngủ ở đó rồi nên quay ra đường quốc lộ Nam 13 đi tiếp.
Tôi đến một bản mà dọc hai bên đường người dân bán cá khô, bên tay phải là sông Mê Kông; vậy là ra khỏi Vientiane khoảng 100 cây thì lại thấy sông Mê Kông rồi. Khi tôi đến đúng cây số 110 thì trời chiều, tôi gặp một ngôi chùa. Sau này tôi mới biết đó là bản Namlo.
Trong chùa này chỉ có một nhà sư. Khi nghe tôi hỏi xin cắm trại để ngủ lại, nhà sư bảo tôi vào bản ngủ chứ không ngủ trong chùa được. Tôi chỉ ra gốc đa xòe tàn thật to ở góc sân bên trái và nói tôi cắm trại ở đó được không. Ông sư ngần ngừ một hồi rồi nói được. Tôi đến dựng xe và xem địa thế.
Cuối cùng tôi không cắm trại ở dưới tán cây mà đi vào trong một tí, nghĩa là cạnh toà nhà dành cho sư trụ trì. Ngủ chùa riết cũng quen nên tôi khá tự nhiên. Cắm trại xong, tôi ra hồ lấy nước tắm rửa, rồi lên trước chánh điện tìm nước uống. Hôm đó, tôi không ngon giấc lắm vì bị lạnh.
Buổi sáng, thu dọn đồ đạc xong, tôi để lều phơi cho khô. Người dân cúng dường bảo tôi ở lại ăn cơm. Chùa này chỉ có một ông sư. Có ba người đàn ông ngồi gần nhà sư, còn cánh phụ nữ ngồi phía dưới. Ở Lào, phụ nữ không được phép đưa hay nhận bất cái gì trực tiếp từ các nhà sư hoặc chú tiểu. Muốn đưa cho sư cái gì thì họ để trên bàn hay dưới đất và ngược lại, các nhà sư muốn đưa cái gì cho phụ nữ cũng phải để trên một cái gì đó, chứ không đưa trực tiếp.
|
| Người Lào thường dùng chiếc thố đan bằng tre để đựng cơm. |
Do đây là làng chài nên tôi được ăn khá nhiều món cá, trong đó tôi hảo nhất là món lạp cá (tiếng Lào gọi là “lạp bả”). Ăn xong, một người đàn ông lấy cái thố mây nhỏ của mình cho cơm nếp vào bảo tôi mang theo ăn dọc đường. Tôi ngại quá nên lấy cái ca nhôm ra và nói cho cơm vào đây được rồi. Họ bảo cơm phải đựng trong thố tre đan còn ca nhôm để đựng thức ăn. Họ lấy cá chiên và giò lụa chiên (giò lụa tiếng Lào gọi là “nem” mới lạ chứ) ra cho vào ca cho tôi. Tôi thật sự cảm động về sự chu đáo, tốt bụng của họ!
Đến Pakxan
Tôi vào thành phố Pakxan, thuộc tỉnh Bolikhamxay, cách Vientiane 150 cây số về hướng nam. Ngay cửa ngõ vào thành phố là quán cơm Tuấn Thủy (chắc đây là quán cơm của chị Thủy người miền Tây khá nổi tiếng mà mấy người ở Oudomxay có nhắc đến), nhưng tôi chạy thẳng luôn chứ không ghé vào.
Người Việt sống ở Pakxan khá đông bởi dọc hai bên đường quốc lộ là các quán cơm, quán cà phê, tiệm rửa xe ghi tiếng Việt khá nhiều. Ngoài ra thành phố này cũng có rất nhiều nhà trọ. Chạy một vòng tham quan Pakxan, không có gì đặc biệt nên tôi đi thẳng luôn dù lúc ấy trời đã về chiều.
Trời dần tối, tôi vào một ngôi chùa hỏi chỗ ngủ. Lúc đầu sư bảo được, nhưng khi tôi bảo có lều thì họ lại đổi ý nói không được và bảo tôi vào bản ngủ nhà dân. Tôi lên xe chạy qua bản kế tiếp. Đó là bản Thana. Tôi không thấy chùa đâu cả mà trời tối rồi nên dừng đại trước một nhà sàn ở cạnh đường, có vẻ bỏ trống. Sau lưng là vài ngôi nhà gạch sáng đèn, có mấy người đang ngồi “tám”. Tôi hỏi cắm trại ở nhà sàn ngủ được không? Có một mẹ bảo vào nhà mẹ mà ngủ, mẹ chỉ có một mình. Khi hỏi chỗ tắm thì họ chỉ vào nhà bên cạnh. Nhà này của một ông cụ khá phúc hậu. Trong nhà này có một chị cỡ bằng tuổi tôi nhưng đã có con gái 15 tuổi rồi. Bữa tối, tôi ngồi ăn cơm cùng ông cụ, chỉ có món cá và chén muối ớt.
Ăn xong, phụ nữ và trẻ con trong nhà xúm lại bọc vải thun mà đứa con gái 15 tuổi vừa đem về. Họ tước sợi ra từ vải thun. Tôi hỏi họ tước sợi để làm gì, họ bảo là để nhét vào gối hoặc mền. Lạ thiệt! Sao họ không dùng gòn nhỉ? Tôi thử làm với họ nhưng sợi chỉ của tôi kéo ra nhìn chả giống ai. Quê quá nên tôi nằm xem ti vi luôn.
Bây giờ tôi phát hiện ra một điều rằng phụ nữ Lào trông cực kỳ xinh đẹp và quyến rũ khi họ bới tóc cao lên, quấn xà rông ngang ngực để đi tắm. Chắc phụ nữ ăn mặc hở hang hơn thì đẹp hơn hay sao ấy nhỉ?
Tôi ngủ ở nhà mẹ ngon vô cùng nên sáng mẹ phải đánh thức tôi dậy để mẹ khóa cửa đi chùa cúng dường thức ăn cho các sư. Tôi dậy đánh răng rửa mặt, lấy chuối ra cho mấy đứa trẻ ăn rồi chia tay họ lên đường. Lúc tôi đẩy xe ra cửa thì ông cụ đến bảo ở lại ăn sáng. Nhưng tôi cám ơn rồi lại lên đường vào khoảng 7 giờ sáng.
Tôi đạp xe ngang qua một cánh đồng trồng toàn dưa leo. Dưa xấu họ bỏ ở vệ đường, tôi nhặt vài quả mang theo. Lại đến bản trồng mía, họ bán dọc hai bên đường, mía nguyên cây hoặc cắt khúc nhưng giá cả không hề rẻ, mỗi bó chừng năm khúc (chỉ khoảng một cây mía thôi) có giá 5 ngàn kip (ở Oudomxay, tôi mua một bó 4 khúc mà chỉ có 1 ngàn kip).
Một đêm đáng nhớ
Tôi ăn uống no say thì lên xe chạy tiếp. Khoảng 20 cây số nữa, đến Namthone thì tôi dừng lại ở một ngôi chùa của bản Na Khua. Lúc ấy khoảng 3 giờ trưa thôi nhưng chạy xe dưới trời nắng và không được chợp mắt buổi trưa nên tôi hơi mệt. Vào chánh điện, không có ai cả; tôi tìm một góc mát mẻ, nằm xuống chợp mắt. Khoảng gần 4 giờ nghe có tiếng ai đó vào, tôi ngồi dậy, thì ra là chú tiểu. Một cậu bé trông đáng yêu vô cùng. Cậu bé thấy tôi thì mắt sáng lên. Tôi ra dấu hỏi ngủ ở đây được không? Cậu ta bảo được, rồi ngồi gần đó nhìn tôi chứ không đi ra. Tôi mặc kệ, nằm xuống ngủ tiếp.
Ngủ đã giấc, tôi ngồi dậy định lấy xe đi thì chú tiểu nói gì đó, ý là không nên đi bởi vì không có nơi nào để ngủ đâu. Thấy chú tiểu nhiệt tình quá nên dù mới 4 giờ chiều, tôi cũng ở lại. Chú tiểu móc trong túi áo ra gói mì nhưng không đưa trực tiếp cho tôi mà đưa cho thằng bé thường dân để đưa tôi. Thì ra chú tiểu cho tôi mì gói để ăn đấy mà. Đáng yêu quá!
Chú tiểu săm soi chiếc xe đạp của tôi mãi và rất muốn chạy thử nhưng nặng quá sức của chú nên tôi phải lấy hành lý xuống bớt để chú ta thỏa thích đạp xe vòng vòng. Chú cứ so sánh xe tôi với chiếc xe đạp của chú ta mãi (xe của chú trông cũng khá đẹp). Chú hỏi giá chiếc xe của tôi, rồi bảo xe của chú giá 550 ngàn kip (chắc tương đương 1 triệu rưỡi đồng). Chú tiểu này chắc “ghiền xe đạp” đây và chắc đó là lý do chú ta muốn giữ tôi lại chùa.
Chú tiểu chạy lấy chiếu cho tôi, còn thằng bé thường dân, tên là Bulavi, bạn của chú thì lấy gối ra trải xuống bảo tôi ngủ ở đấy. Thằng bé Bulavi có một tấm khăn choàng lớn nên nó lấy choàng qua người và nằm ngủ cạnh tôi. Chú tiểu nghe tiếng sư ông gọi nên chạy về tòa nhà dành cho các sư.
Thằng nhóc Bulavi lấy ra một gói mì và ngồi nhai sống. Tôi đang xem hình trên máy tính, dù không đói nhưng thấy nó nhai ngon lành quá nên cũng bắt chước lấy gói mì mà hồi nãy chú tiểu cho ra nhai. Nhai mì sống xong thì thằng bé nói gì đó và chạy về phía phòng chú tiểu. Chú tiểu chạy ra hỏi tôi gì đó. Chả hiểu nhưng tôi cứ gật đầu đại. Vậy là chú tiểu mang ra thêm hai gói mì nữa cùng một ca nấu nước nóng. Tôi và thằng bé Bulavi nấu nước nóng và nấu mì ăn. Tôi lấy rong biển khô cho vào mì của tôi và của nó thì nó bảo nó không ăn và lấy ra để dành cho chú tiểu. Tôi đưa luôn nguyên bịch rong biển cho nó luôn. Hai đứa trẻ này thật là biết quan tâm nhau. Tôi lấy ra hai hộp sữa, đưa nó một hộp vả bảo hộp kia cho chú tiểu. Nó đồng ý ngay.
|
| Chú tiểu không hiểu nghĩa của chữ "My girl" nên đã chọn trong số những miếng giả hình xăm dán lên ngực, trông thật ngộ nghĩnh. |
Ăn uống dọn dẹp xong thì tôi lấy mấy các hình xăm mua ở Trung Quốc ra hỏi nó muốn xăm hình nào. Chú tiểu ra và cùng nó săm soi cuốn hình. Chú tiểu lúc đầu không chịu dán hình xăm vào người mà bảo dán vào điện thoại. Tôi bảo dán điện thoại không đẹp. Vậy là chú ta tự dán lên cánh tay một con bướm, sau đó lật tới lui và chọn một dòng chữ dán lên ngực. Chú dán xong chìa cho tôi xem, thật không nhịn được cười bởi chú ta chọn đúng từ “My girl” mà dán lên ngực.
Lúc ấy bên ngoài trời trăng sắp lên. Khi ấy bầu trời thật kỳ lạ, trông y như cả bầu trời cao vời vợi đang nứt nẻ ra vậy đó. Tôi đứng nhìn bầu trời cùng hai đứa trẻ. Tôi bảo bọn chúng rằng bầu trời nhìn lạ quá, trông y như những vết rạn nứt trên bụng của mấy bà bầu. Rồi từ từ vầng trăng ló dạng; khi trăng xuất hiện thì bầu trời không còn nứt nẻ. Vậy ra là bầu trời trước đó mang thai mặt trăng ư?
Một lúc hai đứa trẻ rủ nhau đi đâu đó. Tôi bị bỏ lại ngủ một mình. Tôi sợ ma quá nên ngủ chập chờn. Khoảng 10 giờ, hai đứa về và đùa giỡn một hồi thì lăn quay ra nằm cạnh tôi để ngủ luôn. Thằng bé Bulavi nằm giữa, tôi và chú tiểu mỗi người nằm một bên và mạnh ai nấy ngủ.
Chú tiểu này chắc là thích có người lạ ghé thăm lắm đây nên đáng lẽ không được ngủ như thế nhưng chú ta vẫn lăn ra ngủ say mê. Khoảng gần 6 giờ sáng thì vị sư già dậy và đi vào chánh điện. Vị sư ngạc nhiên khi trông thấy ba chúng tôi đang nằm ngủ như thế. Chú tiểu bật ngay dậy được, còn thằng bé kia thì say ngủ đến mức cả nhà sư lẫn chú tiểu kéo tay chú, vậy mà chú ta vẫn cố kéo lại để tiếp tục nằm ỳ. Mọi người quét dọn chánh điện và kéo thằng nhóc đó dậy. Ở chùa của B.Na Khua chỉ có một sư và một chú tiểu thôi.
Tôi dọn dẹp xong thì cũng gần 7 giờ sáng nên chia tay mọi người lên đường. Tôi thấy quyến luyến thằng nhóc Bulavi và chú tiểu ấy vô cùng. Đó là chú tiểu đáng yêu và thân thiện nhất mà tôi từng gặp.
Đường đi Thakhet
|
|
|
|
| Pa nô giới thiệu cây cầu Hữu Nghị 3 bắc qua sông Mê Kông nối liền hai nước Lào - Thái. |
(TBKTSG Online) - Trên đường đi Thakhet, tôi gặp một bản khá nhộn nhịp. Trên con đường lớn dẫn vào bản có một cái chợ ăn một tô khợp bun và mua thêm đồ ăn đem theo. Ra khỏi chợ, tôi thẳng đường quốc lộ mà tiến thì thấy hai bên đường có nhiều quầy bán chuối già và chuối cau.
Tôi dừng xe tấp vào quầy bán chuối của hai cô bé khoảng 10 - 11 tuổi, dù không có ý định mua chuối vì đã mua lỉnh kỉnh nhiều thứ rồi. Một cô bé xách nguyên buồng chuối cau được cột trong một bao ny lông màu đỏ ra đưa cho tôi và nói giá 5 ngàn. Tôi tưởng mình nghe lầm, làm gì có giá 5 ngàn cho cả buồng chuối cau như vậy. Tôi cầm lấy và hỏi đi hỏi lại, 5 ngàn à? (ha pan kip?) cô bé gật đầu. Cô bé kia quay sang nói nhỏ: chệt pan (7 ngàn) nhưng cô bé này vẫn khăng khăng giá 5 ngàn. Ôi trời, tôi có thể từ chối một giá rẻ thế sao? Ở các bản khác với 5 ngàn tôi chỉ có thể mua 1 nải chuối cau thôi.
|
| Buồng chuối treo trước ghi đông xe thật tiện nhưng cũng khiến nhiều người nhìn tôi ngạc nhiên. |
Vậy là tôi cầm lấy buồng chuối và máng luôn vào tay lái xe. Tôi cũng không biết làm sao mà lái xe nữa nhưng tôi không thể không mua. Tôi móc 5 ngàn ra đưa và lên xe đạp. Mấy người bán hàng ở các gian gần đấy nhìn tôi cười ha hả.
Thật buồn cười là tôi chở cả buồng chuối theo, cứ vừa đi vừa bẻ chuối ăn. Buồng chuối này không ngọt và thơm như chuối cau ở các nơi khác, nhưng cũng không tệ. Chốc chốc tôi lại dừng lại, bẻ chuối ăn. Loáng cái đã hết 3 nải. Vẫn còn ba, bốn nải nữa, hai nải cuối vẫn còn xanh.
Đi một hồi thì vào bản Namthone. Dọc hai bên đường là các bảng hiệu tiếng Việt. Người Việt sang đây chọn toàn các bản, thị trấn lớn hoặc thành phố mà sống và làm ăn thôi. Cứ thấy nơi nào có nhiều bảng hiệu tiếng Việt thì biết đó là một bản lớn, các bản nhỏ gần như không có người Việt. Ngoài ra người Việt sống ở phía Nam nhiều hơn ở phía Bắc, có thể là do ở phía Nam kiếm tiền dễ hơn chăng và có thể do ở phía Nam gần biên giới Lào-Thái và mỗi khi hết hạn 30 ngày, họ chỉ cần qua cầu vượt sông Mê Kông sang Thái rồi lại về Lào để được đóng một cái mộc 30 ngày khác.
Trời bắt đầu nắng lên. Tôi ghé vào một ngôi chùa bên đường để lấy nước cho vào chai. Chùa chiền ở Nam Lào có những đặc điểm hơi khác với các ngôi chùa ở phía Bắc một tí.
|
| Một nơi nghỉ chân ven đường lý tưởng sau chặng dài đạp xe của tôi. |
Tôi lại tiếp tục đi, gần 12 giờ trưa, trời nóng như đổ lửa. Ven đường là một ngôi nhà tường đóng cửa, ngoài sân là vài cái bàn ghế được sắp xếp gọn ghẽ và ngay ngắn dưới những tán cây mát rượi. Sau lưng là một hồ nước đầy ăm ắp. Thật là quyến rũ, không cưỡng lại được. Tôi dừng xe, vào bàn ghế lấy thức ăn ra đánh chén, sau đó ra hồ nước gội đầu luôn. Đúng là đi bụi sướng nghen các bạn! Có thể tắm và gội đầu mọi lúc mọi nơi miễn là thuận tiện. Thoải mái quá, tôi ngồi dũa móng tay móng chân nữa mới sướng chứ!
Lại lên đường. Chỉ còn khoảng 80 cây số nữa là vào Thakhet, một nơi nổi tiếng với khách du lịch bởi có vài cái hang nghe nói là vô cùng ngoạn mục.
Bây giờ tôi mới để ý, người ta quăng vỏ lon bia, lon nước ngọt đầy đường mà không ai nhặt để bán ve chai cả, đó là chưa kể đến số lượng lớn thùng và hộp carton, chai nước suối. Người Lào chỉ sử dụng một lần rồi vứt chứ không thèm đồ tái chế hay sao ấy? Chỉ đi vài cây số mà tôi nghĩ nếu chịu khó nhặt (chỉ một bên lề đường thôi) cũng được ít nhất một chục ký ve chai đấy chứ. Tôi không hiểu vì sao các xe buýt đường dài không trang bị thêm thùng rác và khuyến khích hành khách vứt rác vào đấy. Sau mỗi chuyến như thế, đảm bảo tài xế sẽ bán được khá bộn tiền.
Năm ngày ở bản Phon Phon
|
| Ngôi chùa ở bản Phon Phon. |
Còn khoảng 50 cây số nữa thì đến Thakhet, tôi dừng lại ở bản Phon Phon (cách Thakhet 53 cây số về hướng Vientiane). Tôi muốn tìm một ngôi chùa để xin vào nghỉ chân, nhưng chùa ở miền Nam quá đơn giản nên nếu không nhìn kỹ thì sẽ không nhận ra. Ngôi chùa của bản Phon Phon nằm thấp thoáng trong một xóm dân cư, tôi rẽ vào và phát hiện đó là một nơi vô cùng lý tưởng để nghỉ ngơi. Chùa chỉ có hai ngôi nhà; một là chính điện và một nhà là nơi nghỉ ngơi cũng là nơi các Phật tử cúng dường thực phẩm cho nhà sư.
Ngay trước lối vào là một nhà sàn, chỉ có mái che chứ không có vách tường, để trống bốn bên. Tôi sẽ ngủ ở nhà sàn này mà không sợ mưa hay sương đêm.
Chính điện lót gạch bông sạch sẽ và tĩnh mịch; thỉnh thoảng có vài đứa con nít đến chơi thôi, còn dân làng hầu như chỉ lên nhà sàn, chỗ có hai sư ông già và một chú tiểu 11 tuổi người Seno. Và, tôi đã ở lại trong ngôi chùa này luôn đến 5 đêm.
Hàng ngày, tôi ôm máy tính ra chính điện ngồi viết hoặc đọc truyện. Ở đây có ổ cắm điện nên tôi có thể sạc pin. Ngồi mãi, khi nào mệt thì nằm luôn xuống sàn chợp mắt một lúc. Đến bữa ăn, sau khi các sư dùng xong thì họ gọi tôi. Đúng là thảnh thơi vô cùng!
Có điều lạ là ở bản này, không ai quan tâm đến việc quét dọn chính điện cả. Hôm tôi mới đến, hình như ở đây có diễn ra lễ hội gì đó nên trong chính điện đầy rác. Chịu không nổi, tôi cầm chổi lên quét dọn luôn và hàng ngày tôi đều quét trong thời gian ở lại đây. Đến ngày thứ tư thì ở đây có một cuộc họp.
Chuyện trò với một đồng hương buôn gỗ
May là sáng hôm đó tôi đã quét dọn sạch sẽ nên họ đến không cần phải làm gì cả. Dân Lào quả là sống giản dị, quan và dân gần gũi nhau nên nhìn chả phân biệt được và họ quây quần như thế, tất cả ngồi dưới sàn nhà. Tuy nhiên cái tính xài sang của họ vẫn không bỏ. Một ông chắc là quan xã hay sao ấy, đi xe 7 chỗ đến, ôm theo thùng nước khoáng, loại chai 350ml, nhưng hầu như không ai uống, vậy là họp xong người dân, ai thích thì đến xin một chai, cuối cùng còn 3 chai, ông ta đưa cho tôi tất.
Người dân uống xong cứ vứt vỏ chai lung tung, không hề nghĩ đến việc dùng chúng vào việc gì khác hay tái chế cả. Ý thức về môi trường của người Lào khá kém; rồi đến một lúc nào đó họ sẽ phải trả giá đắt cho việc này. Hiện nay Lào vẫn là một quốc gia hầu như chưa bao giờ có ngập lụt. Mặc cho Thái Lan, Campuchia, Việt Nam rên xiết vì lụt lội, Lào vẫn tỉnh rụi như không.
Người Lào "xài" rừng vô tội vạ, thậm chí họ còn cho dân buôn gỗ nước khác đến phá hoại tài nguyên thiên nhiên của họ. Đêm thứ tư của tôi ngủ tại đây, tôi được dịp tiếp xúc với anh Quang (*), người Quảng Trị, chuyên buôn gỗ từ Lào về Việt Nam; anh ta đi buôn ở Lào 19 năm rồi và nói tiếng Lào chỉ thua tiếng mẹ đẻ thôi.
Anh ta dặn tôi cứ vào các chùa mà ngủ như thế này là an toàn nhất bởi đền, chùa là nơi rất thiêng liêng đối với người dân Lào và họ không dám làm những việc xấu xa ở đó. Tôi cũng nghĩ như thế, cả ở các nước khác như Mông Cổ, Ấn Độ cũng vậy, cứ đến ngủ gần những nơi mà người dân thờ phụng thì được an toàn bởi họ dù gì cũng phải nể thần linh của họ chứ.
Xem ra, việc đi xe đạp và ăn mặc rách rưới đã đem lại sự an toàn cho tôi bấy lâu nay mà tôi không để ý đến các bạn nhỉ? Đến đây thì tôi nhớ ra một trong những chiêu mà các tay đi bụi sừng sỏ truyền tai nhau để tránh móc túi hoặc tội phạm là trông có vẻ rách rưới và xanh xao (look pale) một tí. Nếu bạn trông hồng hào, túi xách ba lô bóng láng, mặt thì hăm hở, mắt sáng rỡ nhìn ngó lung tung thì chắc chắn mọi cử động của bạn sẽ nằm trong tầm kiểm soát của một tên hay một nhóm tội phạm nào đấy chỉ chờ dịp là ra tay. Chậc, giang hồ hiểm ác, phải dùng chiêu thì mới sống nổi đây mà!
Tôi hỏi anh ta là nghe nói đất Lào linh thiêng lắm phải không? Anh ta nói đúng, anh ta cũng cực kỳ tin tưởng, nói chi là dân Lào. Chẳng hạn, xe hay hư hỏng dọc đường thì đến chùa làm lễ, các sư đeo cho một sợi dây vào cổ tay và đeo dây vào xe thì mọi chuyện thuận lợi ngay. Tôi hỏi tiếp, nghe nói đất Lào còn linh thiêng ở chỗ, ai đến đây sống thì có thể sử dụng tài nguyên và vàng bạc của họ nhưng không được mang ra khỏi Lào, nếu vẫn cố mang ra thì thế nào cũng “chịu hậu quả”. Anh ta phủ nhận, không tin điều đó.
Anh Quang bảo, anh ta cũng là người có máu du mục, nghĩa là không thể nào ở yên một chỗ quá lâu, anh ta thích đi đây đó nhưng toàn là đi bằng xe hơi chứ chưa đi xe đạp như tôi. Anh ta bảo đúng là không tin nổi. Khi mới đến bản này, nghe mấy người dân trong bản bảo có người Việt đi xe đạp từ Vientaine đang ở tại đây mấy ngày rồi. Anh ta không tin và bảo họ dẫn đi gặp tôi cho được.
Anh ta bảo sẽ về kể cho vợ nghe. Tôi bảo chắc chắn vợ anh ta không tin đâu nên kể làm chi cho mệt. Tôi giới thiệu blog của tôi cho anh ta và bảo người ta đọc blog rồi mà có người vẫn còn không tin nữa huống là chỉ nghe kể miệng. Anh ta bảo tôi là lúc ấy anh ta bận đi “làm gỗ” cách đấy 50 cây, nếu vài ngày sau quay lại mà tôi vẫn ở đấy, anh sẽ tặng tôi một cuốn từ điển Việt - Lào.
Anh ta bảo rằng anh ta có khi mê đi quá, “mất tích” cả năm vậy mà vợ nhà vẫn không trách. Anh ta đi riết hai vợ chồng y như ly thân nhưng vợ vẫn chung thủy. Tôi nghĩ, chắc cũng do chị ta quen dần sự vắng mặt của anh chồng rồi. Có khi anh ta ở nhà lâu quá, vợ lại “thấy ngứa mắt”.
Đúng là vui ghê khi gặp người có cùng dòng “máu du mục” như mình. Lạ thiệt nghen, những người như tôi có sẵn máu du mục trong người rồi nên ai đó bắt ép họ phải ở một nơi thật ra là đang giết dần giết mòn họ đấy. Việc thường xuyên di chuyển ngoài đường lại tạo cho họ niềm hưng phấn, chắc giống cảm giác “lên đỉnh” ấy. Tôi chẳng những có máu du mục mà dưới mỗi gan bàn chân của tôi là một nối ruồi; thử hỏi như thế thì làm sao tôi có thể ở yên một nơi được chứ?
Khi tôi chia tay mọi người để ra đi, các sư và dân làng bảo khi nào đi ngang thì ghé qua ăn cơm uống nước và nghỉ ngơi. Trước đó tôi còn được nhà sư tặng cho một khúc sáp nến mà tôi đoán chắc là có ý nghĩa gì linh thiêng lắm.
Đi khoảng 13 cây số là đến Thakhet, nơi có cây cầu hữu nghị Lào-Thái số 3 mới khánh thành vào đầu tháng 11/2011, nối liền tỉnh Khammouane (Lào) và Nakhon Phanom (Thái), có tuyến xe buýt quốc tế Thakhet - Nakhon Phanom. Theo tôi, so với cầu Hữu Nghị số 1 nối kiền Vientaine (Lào) và Nongkhai (Thái) và cầu Hữu Nghị số 2 nối liền Savanakhet (Lào) và Muddahan (Thái) thì cây cầu số 3 là đẹp nhất. Nó có hình dáng cong cong như vành trăng khuyết. Đầu cầu là hai tòa tháp vàng. Trông từ xa cây cầu rất đẹp.
_____________________________________________________
(*) Tên nhân vật đã được đổi.
Loanh quanh ở Thakhet
|
|
|
|
| Bờ sông Mê Kông ở thành phố Thakhet. |
(TBKTSG Online) - Tôi đến Thakhet vào buổi chiều, đạp xe loanh quanh và tìm thấy một nơi lý tưởng để cắm trại ở bờ sông Mê Kông, gần khu vực có nhà dân. Loay hoay một lúc lâu tôi mới dựng chiếc lều và sắp xếp đồ đạc xong lúc trời vừa tối nên phải lọ mọ tìm lối xuống bờ sông (dốc đứng và cách mặt nước khá cao) để tắm. Tưởng tối rồi, sẽ chẳng ai trông thấy tôi nhưng lại có một người đàn ông đứng hóng mát gần đó.
Hắn bước lại gần và hỏi tôi, người Việt hay Lào. Tôi nói người Việt. Hắn nói tiếng Việt giọng Huế nhưng bảo mình là người Lào, do làm ăn với người Việt nên biết tiếng Việt. Hắn cứ luôn miệng bảo tôi ngủ ở đây không được đâu, công an bắt? Tôi hỏi vì sao công an bắt. Hắn bảo không biết nói thế nào.
Tôi leo xuống dưới để tắm, nhìn quanh quất không thấy ai cũng chả thấy hắn ở đâu, nghĩ bụng hắn bỏ vào nhà rồi, trời tối mà không có ai nên tôi cởi đồ ra tắm luôn. Mát dễ sợ nhưng vừa tắm vừa sợ có cái gì đó dưới sông… kéo tôi xuống nước (mỗi khi ra sông suối hay biển là tôi hay nghĩ vớ vẩn như vậy lắm).
Tắm xong, tôi lọ mọ leo trở lên. Vừa đến bờ thì hắn từ đâu chui ra lại bảo không thể ngủ ở đây đâu. Tôi mặc kệ gã, chui vào lều ngủ trong tiếng tụng kinh bằng micro của các nhà sư vọng sang từ Thái Lan.
Mới sáng sớm, gã thanh niên lúc tối đã đến cùng thêm một người nữa. Lại bảo không ngủ ở đấy được. Ghét quá! Từ đấy, ai hỏi gì tôi cũng cấm khẩu luôn, hoặc cứ bảo không biết “bo hu.” Bọn họ hỏi chán nên bỏ đi.
Tôi leo xuống sông gội đầu, có một ngư dân lúi cúi làm gì đó trên thuyền của anh ta. Khi tôi lên bờ, anh ta cũng lên bờ và cũng lại hỏi. Anh ta bảo ở Thakhet có nhiều con nghiện lắm. Ngủ lung tung, chúng thấy sẽ mò đến đòi tiền hoặc cắt cổ để cướp đồ.
Tôi thuộc dạng “điếc không sợ súng” do không đọc được báo địa phương nên ai viết gì cũng chả biết, chứ ở Việt Nam chẳng dám đi bụi kiểu nầy tí nào đâu. Thế mới biết, báo chí có lợi mà cũng có hại vô cùng. Cái hại ở đây là làm mọi người sợ hãi, mất lòng tin vào tất cả mọi người xung quanh; bước chân ra đường là nơm nớp lo sợ, thấy ai cũng cảnh giác. Ở Lào cũng có những vụ án tương tự nhưng tôi không biết gì cả (có đọc được báo đâu mà biết) nên tôi đi và sử dụng trực giác, ăn bờ ngủ bụi mà đến nay vẫn bình an vô sự. Báo chí nhiều khi nói thái quá làm cho con người thêm sợ và lúc nào cũng sống trong sợ hãi và cảnh giác.
|
| Hàng bánh mì ở góc quảng trường chính của Thakhet. |
Thu dọn xong hành lý, tôi đạp xe tham quan Thakhet và thưởng thức món bánh mì Lào nhưng mang phong cách Việt Nam. Bánh mì thịt ở Thakhet thật đặc biệt. Ổ bánh mì to như bánh mì baguette nhưng ngắn hơn một tí, bên trong nhét đầy thịt, giò chả, dưa leo, ngò, có giá 12-13 ngàn kip.
Tôi mua bánh mì ở một bà bán ở một trong bốn góc đường của quảng trường chính. Quán của bà khá đông khách nên lần đầu đến, thấy đông quá, tôi bỏ đi, đạp xe loanh hoanh chụp hình đã đời rồi mới quay lại mua. Nghe bà nói tiếng Việt với vài khách hàng, tôi ngỡ bà là người Huế nhưng bà bảo bà sinh ra và lớn lên ở Lào.
Nếu muốn thưởng thức bánh mì thịt của bà các bạn đến quảng trường trước 9 giờ sáng. Đi hết cả bốn góc quãng trường thì thế nào cũng thấy hàng bánh này. Quảng trường này không lớn lắm nên việc đi dạo một vòng vào buổi sáng ở một nơi cổ kính rêu phong thì cũng đáng lắm chứ!
Nếu không các bạn cứ đi loanh quanh Thakhet cũng sẽ gặp nhiều quầy bán bánh mì thịt khác. Từ bờ sông đi thẳng băng qua quảng trường và đi dọc con đường chính đến ngã tư có đèn giao thông đầu tiên, rẽ phải và đi tiếp một đoạn, các bạn sẽ thấy mấy hàng bánh mì thịt nằm san sát nhau.
Tôi dừng lại ở một nơi có mái che trên bờ sông Mê Kông, đối diện xéo khách sạn Mekong để gặm nửa ổ bánh mì (ổ bánh lớn lắm nên mỗi lần chỉ ăn hết nửa ổ dù tôi ăn nhiều lắm đấy).
Khi tôi ăn xong và lấy sổ tay ra hí hoáy viết thì có một thằng nhóc chạy xe máy ngang qua, nó nhìn thấy tôi thì vòng trở lại, đậu xe ngay bên ngoài và gọi điện thoại cho bạn bè. Hắn bảo có một người nước ngoài đi một mình, chắc hắn bảo bạn bè đến “thịt” tôi. Lại có một tên khác đi xe ngang qua (không cùng bọn bởi chúng không nói chuyện với nhau), thấy tôi nên ghé vào, ngồi bên cạnh, tôi chả thèm để ý, ngồi chán, hắn bỏ đi. Gã bên ngoài gọi điện thoại liên tục. Tôi viết xong nên cũng đứng dậy đi.
Tôi đi ra chợ Na Bô thì gặp một chị người Huế bán bánh canh ở trước cổng chợ 12 năm rồi, cũng sử dụng loại mộc nhập cảnh 30 ngày như tôi. Chị bảo ở Thakhet bọn xì ke nhiều vô số kể (hú vía là tôi ngủ ở bờ sông mà không bị bọn chúng bắt gặp), đặc biệt là bọn thanh niên hút hít nhiều lắm. Tôi chợt nghĩ, hình như ở Lào hầu như không có gì cho thanh niên tiêu khiển cả.
Bánh canh chị bán 5 ngàn kíp/tô, giống loại bánh canh mà tôi ăn ở Nongkhai, Thái Lan. Tôi bảo chị sang Thái mà bán bởi vì người Thái ăn món này nhiều lắm. Chị bảo, Thái khó hơn Lào, không cho sang đấy bán hàng đâu. Như chị ở Lào, ngồi một chỗ thì không sao chứ đẩy xe đi lòng vòng là bị công an bắt phạt rồi. Chị bảo mấy cô gái sang đây làm móng cũng phải canh buổi trưa khi họ nghỉ rồi mới dám đạp xe lòng vòng chứ họ mà bắt được thì phạt nhiều tiền lắm. Có lần họ bắt hơn chục người Việt ở quá hạn, họ bắt mỗi người nộp phạt 150 đô Mỹ. Thế mới biết kiếm được đồng tiền nơi đất khách cũng lắm nhiêu khê!
Chia tay chị, tôi lại đạp xe đi. Vào một con đường đang sửa chữa về hướng chợ cây số 3, bụi mù trời, gặp một đám ma của Việt kiều.
|
| Ở Thakhet có rất nhiều người Việt sinh sống, kinh doanh nhiều ngành nghề như nhà trọ, nhà hàng ăn uống, cà phê, karaoke... |
Tôi vừa đi vừa chụp hình các hàng quán của người Việt trên con đường này, nào là nhà hàng, quán karaoke, quán cà phê, nhà trọ… thì một người đàn ông bước ra từ một ngôi nhà và gọi đúng tên tôi. Thì ra đó là anh Quang, người buôn gỗ tôi đã gặp ở bản Phon Phon hôm trước.
Anh ta móc túi ra đưa cho tôi quyển từ điển Việt-Lào-Việt, bảo rằng mới vào nhà sách mua lúc sáng, trưa hôm nay dự định quay lại bản Phon Phon để tặng tôi nếu tôi còn ở đó. Anh Quang bảo tôi nên ghé thăm hang Tượng Phật Đồng Đen mới được phát hiện khoảng 3 năm nay thôi, nơi này linh thiêng lắm. Anh ta bảo tôi nghỉ tại nhà nghỉ ấy, sáng hôm sau anh ta sẽ lái xe chở đi thăm. Tôi hỏi thăm đường đến đó và bảo nếu muốn đi thì tôi sẽ tự đạp xe.
Tôi buồn cười nhất là trước khi chia tay mọi người lên đường để đi chở gỗ, anh Quang hỏi tôi là: Người như Dung thì có bao giờ khóc không vậy? Tôi nói dĩ nhiên là có rồi, lúc nhỏ tôi là người khóc dai nhất, mỗi khi khóc là khóc đến mấy… ngày.
Trong gia đình tôi ai cũng ngán mỗi khi làm cho tôi khóc đấy bởi vì tôi khóc đến mấy ngày theo quy trình sau: khóc đến khi ăn thì dừng khóc để ăn, ăn xong lại khóc tiếp, đến khi ngủ thì dừng khóc để ngủ, ngủ dậy lại khóc tiếp, đang khóc mà có chuyện gì buồn cười thì dừng lại để cười, cười xong lại khóc tiếp… Bây giờ người nhà tôi còn nhắc mãi cái “điệp khúc” khóc của tôi đấy!
Bị “sét đánh” ở bản Thẳm
|
|
|
|
| Phong cảnh dọc quốc lộ 12 của Lào đẹp như tranh. |
(TBKTSG Online) - Chia tay mọi người ở nhà nghỉ Thanh Tuyền, tôi đạp xe đến ngã ba. Tại đây nếu rẽ phải theo quốc lộ 13 đi về hướng Pakse; còn rẽ trái thì sẽ đi quốc lộ 12 và sẽ đến hang Tượng Phật Đồng Đen. Suy nghĩ 5 phút, tôi quyết định đi quốc lộ 12. Quyết định này đưa tôi đến bản Thẳm, nơi tôi bị một cú "sét" oánh cho xém lụy luôn!
Tuyến đường "định mệnh"
Cột cây số bên đường cho thấy từ đó đến biên giới Việt Nam (cửa khẩu Chợ Lò) khoảng 145 cây số. Tôi đạp xe dọc theo đường lộ, ghé vào một bản mua chuối và sắn, khá rẻ, mỗi thứ một ngàn kip. Tôi thấy một bảng chỉ đường có cả hình vẽ các tượng Phật nhưng lại có tên là Nong Pa Fa, trong khi anh Dũng bảo rằng tên hang là Thẳm Phả cơ mà. Ngoài ra bảng chỉ đường ấy nằm ở cây số 4 và chạy thêm 8,5 cây số nữa là đến, trong khi anh Dũng bảo nó ở cây số 7 và phải đi khoảng 20 cây số nữa mới đến nơi.
Biết là chưa đến hang Thẳm Phả, nơi có Tượng Phật Đồng Đen, tôi vẫn thấy hơi tò mò, muốn chạy vào xem sao nhưng thấy đường đất đỏ mù mịt nên… ngán. Quốc lộ 12 tráng nhựa nên hấp dẫn hơn. Vậy là tôi cứ đi, thỉnh thoảng lại gặp mấy cái bảng chỉ đường vào vài cái hang khác nhưng mãi chả thấy Thẳm Phả ở đâu cả!
Quốc lộ 12 cảnh đẹp hơn hẳn quốc lộ 13 do có núi non sông suối, cảnh đẹp như tranh. Tôi đi thật chậm để ngắm phong cảnh thiên nhiên mà suốt mấy trăm cây số trên quốc lộ 13 chả thể nào thấy được. Dọc đường quốc lộ 12 có rất nhiều hang, trung bình cứ mỗi một cây số là có bảng chỉ đường vào một cái hang nào đó.
Chạy mãi đến cây số 15, thấy đường vào một cái hang, tôi ghé xuống suối rửa mặt và hỏi người bán vé. Vé vào cửa 3 ngàn kip. Nếu tôi muốn ngủ lại trong đó, phải nộp 70 ngàn kip. Tôi nói tôi có lều rồi thì họ xuống giá 50 rồi 25 ngàn kip, cuối cùng họ hạ giá xuống còn 50 ngàn đồng tiền Việt. Chắc hai thanh niên này muốn "níu" tôi ngủ tại đó nên họ xuống giá liên tục. Tôi hỏi hang Thẳm Phả. Họ bảo chính xác là Thẳm Pả Fa và tôi đã đi lố, phải quay lại 12 cây số. Lúc ấy đã 5 giờ chiều.
Tôi vẫn quay lại bởi vì nghĩ mình có thể cắm trại đâu đó trên đường (hơn là phải quay về Thakhet, nơi có nhiều người nghiện, tôi bị “hù dọa” riết nên cũng sợ) Tôi ghé vào một nơi có vài cái lều cạnh bờ sông, hỏi họ ngủ trong một cái lều được hay không. Các bạn có hình dung là đó chỉ là một căn lều mái lá, có trải một cái chiếu thôi mà họ đòi tôi "50 ngàn kip, chắc giá, 40 ngàn cũng không được". Tôi cám ơn và đẩy xe đi thì họ tự xuống giá 30 ngàn. Vớ vẩn!!!
Gặp "Anh chàng cười đẹp"
Tôi đạp xe khi trời bắt đầu tối dần, núi trở nên đen thẳm thì đến cây số 6. Giữa cây số 6 và cây số 5 có một cái cầu, ngay chân cầu là một căn nhà gỗ, lúc trưa tôi đi ngang qua thì nó khóa cửa; bây giờ mở cửa, một người đàn ông đang ngồi thổi lửa. Tôi thấy có người dân, có con suối nơi tôi có thể tắm rửa và sau lưng căn nhà gỗ là nơi có thể cắm trại nên dừng lại, đẩy xe xuống bãi cát sông rồi đi lên căn nhà.
Hình như chỉ có một mình anh ta ở trong căn nhà này thôi. Tôi tiến đến chào "Saibadee". Anh ta ngước lên nhìn tôi, mỉm cười, một nụ cười ấm áp trên khuôn mặt chữ điền, được ánh lửa tỏa sáng. Tôi thấy yên tâm với người có nụ cười ấy nên hỏi anh ta rằng tôi có thể cắm trại ngủ ở trên bãi cát không. Anh ta nói “Dai” (được). Nói ngay mà không cần suy nghĩ nhiều như ở những nơi khác khi tôi hỏi dân bản. Hơi ngạc nhiên nên tôi hỏi lại lần nữa và anh ta cũng lại mỉm cười nhìn tôi và nói “Dai”. Lúc ấy, anh toát ra cái phong thái bề trên như người thầy giáo hay người bố biết tỏng hết mọi ý nghĩ trong đầu một đứa trẻ đang xin phép được làm điều gì đó. Tôi ghét cảm giác này quá, nhưng mà hoàn cảnh lúc ấy của tôi là thế!
Tôi nghĩ, chắc anh chàng có nụ cười đẹp này là ngư dân bởi nơi đây gần sông và cạnh anh ta có cái giỏ bắt cá. Được phép ngủ gần nhà người dân khi trời tối thì tôi thấy mừng rồi. Tôi lúi húi cắm trại. Một thanh niên đi xe máy vào, thấy tôi nên hỏi anh ta gì đó, xong thì dựng xe và đến bảo tôi vào nhà sàn gần đó ngủ. Chỉ vài trăm mét, tôi đi theo xem thử, xui quá có người chiếm cứ rồi. Anh ta lại bảo tôi vào bản Thẳm mà ngủ. Tôi ngại đạp xe nên nói tôi muốn ngủ ở gần sông.
Khi tôi vừa làm xong lều và đang có ý định đến gặp "anh cười đẹp" để xin nước uống thì lại một người đàn ông khác từ bản chạy xe ra bảo tôi đến căn nhà gỗ kia ăn cơm. Tôi bảo tôi muốn xin nước uống. Anh ta bảo có.
Tôi đi theo anh ta lên nhà gỗ. "Anh cười đẹp" bảo chỉ có nước nấu thôi, rồi anh ta lấy nồi nước vừa nấu xong rót vào ca của anh ta và ca của tôi. Họ bảo đó là nước lá ổi, uống cho ấm bụng. "Anh cười đẹp" hỏi tôi người Trung Quốc hay người Anh. Tôi nói người Việt Nam. Sau đó họ bàn bạc xem tôi sẽ ăn món gì. Tôi thấy người dân bản nói gì đó, anh ta bảo không có. Họ có cá lòng tong và "anh cười đẹp" hỏi tôi ăn cá đó được không. Tôi nói được. Họ bàn bạc nhau và anh ta lúi húi nấu cơm. Tôi bảo muốn đi tắm. Anh ta chỉ xuống khúc sông trước nhà và bảo tôi tắm ở đó. Tôi lắc đầu và chỉ khúc sông trước lều của mình.
|
| Dọc đường quốc lộ 12 của Lào có rất nhiều hang, cứ đi một đoạn chừng hơn cây số lại thấy có bảng chỉ đường vào một cái hang nào đó. |
Tôi quay về soạn đồ xong thì có vài người dân đến soi cá; vậy là tôi không tắm được bởi thứ nhất tôi không muốn nhiều người biết tôi đang ở đó; thứ hai là tôi chả lẽ đứng tắm trước mặt họ; vả lại tôi tắm gây tiếng động, cá chạy hết, chắc họ chửi tôi. Vậy là tôi cứ ngồi im trên bờ.
Người đàn ông trong bản từ nhà gỗ xuống bảo tôi vào ăn cơm. "Anh cười đẹp" loay hoay trong phòng ngủ một hồi để lôi cái chiếu từ tấm nệm giường ra. Anh ta thật tế nhị. Tôi biết bình thường họ chỉ đặt cái mâm lên sàn gỗ và ngồi ăn chứ không trải chiếu thế này. Sau đó anh đưa cho tôi một rổ cơm và một tô canh, còn anh ta và người kia ăn chung cơm và canh. Tôi thật cảm kích bởi vì tôi vẫn không thể húp chung canh với người khác.
Do được ăn riêng tô nên tôi ăn rất ngon và chén sạch cả tô canh trong khi bọn họ hai người lại ăn không hết. À quên, tôi mang nửa ổ bánh mì mua ở Thakhet ra mời họ. Họ để lên dĩa và cắt thành nhiều khúc. Bánh mì rất ngon nên tôi nhường họ ăn (lúc sáng tôi đã ăn nửa ổ rồi còn gì). Họ cũng bảo rằng bánh mì rất ngon. Tôi nói bánh mì theo kiểu Việt Nam. "Anh cười đẹp" bảo rằng món ăn Việt Nam thì lúc nào cũng ngon cả. Hai người họ biết nói tiếng Việt một ít. Anh cười đẹp bảo tôi rằng người Việt ăn cơm gạo tẻ nên đẹp, người Lào ăn cơm gạo nếp nên không đẹp. Tôi bảo tôi vẫn thấy người Lào đẹp lắm. Anh ta muốn khen tôi đẹp nên nói thế đấy.
Tôi hỏi hai người rằng ngủ ở đấy có bị "cắt cổ" không (tôi bắt chước người Lào đưa tay lên cổ cưa qua cưa lại), "anh cười đẹp" bảo anh ta là công an.
Lúc ấy có thêm vài người đến và họ hỏi chuyện tôi. Tôi chạy về lều mang sách Việt - Lào ra. "Anh cười đẹp" (đến lúc chia tay tôi mới hỏi tên, anh ta tên là Sầm Ly) bảo 43 tuổi rồi, chưa có vợ con. Hơi lạ nhỉ bởi vì người Lào 15 tuổi đã có gia đình rồi. Sau đó họ ngồi kể chuyện họ đi tỉnh Xiengkuane với nhau bằng tiếng Lào. Dĩ nhiên là tôi không hiểu rồi.
Tôi ngồi ngắm họ. Anh Sầm Ly quả là đẹp. Không phải đẹp như tài tử điện ảnh mà là cái đẹp của sự lương thiện. Tôi mê nụ cười của anh ta là vì nó toát ra sự lương thiện và chân thật, theo đúng kiểu của một người Lào điển hình. Thời buổi này mà có một anh công an như thế thì quả là hơi bị hiếm nên tôi thấy cảm động khi được gặp một người như thế. Do đó đối với tôi anh Sầm Ly quả là rất đẹp!
Tôi xin phép về lều ngủ trước. Lát sau, nghe tiếng vài người nói chuyện lao xao và họ đi về phía lều của tôi. Không muốn nói chuyện với họ, tôi nói vọng ra: “Non leo” (Ngủ rồi). Bọn họ cười và tôi nghe tiếng anh chàng Sầm Ly lặp lại: “Non leo”. Sợ bọn họ bắt tôi dọn lều để vào nhà ngủ, tôi lấy áo đắp lên mặt và ra dáng như muốn ngủ thật. Lúc đó tôi chỉ khóa cửa chống muỗi vì còn muốn ngắm cảnh trước khi ngủ nên từ bên ngoài nhìn vào vẫn thấy. Cuối cùng họ cũng bỏ đi.
Tiếng "sét" giữa rừng Lào
Hôm ấy trời gió kinh khủng. May là tôi có ba cái ba lô dằn ở ba góc nếu không chắc bị thổi bay tuốt lên trời luôn rồi. Trời chưa sáng, tôi nghe tiếng anh Sầm Ly ho khúng khắng và mở cửa. Tôi “nướng” đến khi trời sáng thì dậy chui vào bụi giải quyết nhu cầu. Cũng may mắn bởi vì sau đó người dân kéo đến ... xem tôi. Tôi tắm dưới suối xong phải ra dấu cho họ đi nơi khác để tôi chui vào lều thay đồ thì họ mới bỏ đi.
Anh Sầm Ly gọi tôi vào ăn cơm. Tôi ngồi cạnh anh ta cùng hai người đồng nghiệp. Thêm một người nữa đến, anh ta ra dấu bảo tôi ngồi xích lại gần anh ta cho người kia ngồi. Hôm nay anh Sầm Ly mặc quân phục công an nên trông càng đẹp. Dân Lào quả là có một đặc điểm rất lạ. Họ ăn ít và ngủ ít. Không hiểu sao họ vẫn có thể sống được. Mọi người ăn xong và lần lượt đứng lên đi hết. Còn lại có mình tôi và anh Sầm Ly.
Tôi ăn nhiều nên ở lại là đúng rồi. Không hiểu sao anh chàng có nụ cười đẹp vẫn ngồi ăn mãi mà chưa chịu đứng lên thế nhỉ? Anh ta cứ luôn miệng bảo tôi rằng đi xe đạp nhọc lắm nên ăn "im im" một chút (“im” tiếng Lào nghĩa là no). Tôi ngạc nhiên vì thấy anh ta ngồi ăn mãi, chả giống một người Lào tí nào. Tôi cũng ngồi ăn mãi để xem anh ta ăn đến khi nào no.
Có lẽ chúng tôi sẽ ngồi ăn mãi nếu không có một anh chàng bước vào và dụ chở tôi vào bản Thẳm chơi. Bây giờ tôi hiểu vì sao anh Sầm Ly 43 tuổi mà vẫn chưa có vợ. Đơn giản là anh ta không biết “tán gái”. Tôi thích anh ta bởi anh ta có nụ cười lương thiện và tôi cảm thấy anh ta cũng thích tôi nữa. Vậy mà anh ta, ngay cả nhìn tôi cũng không dám nữa; mặc dù cái nhìn của anh ta cũng đẹp như nụ cười của anh vậy.
Anh chàng kia thì đòi chở tôi đi chơi còn anh ta thì bảo anh ta ở nhà làm việc dù hôm đó là Chủ nhật. Tối hôm trước người đàn ông ở bản Thẳm biết hôm sau tôi muốn đến hang Tượng Phật Đồng Đen nên hỏi anh Sầm Ly có đi không (chắc muốn bảo anh ta chở tôi đi), anh ta nói là bận làm việc. Hèn chi không có vợ là phải.
Anh ta đúng là một người đàn ông theo khuôn mẫu cũ, nam nữ thọ thọ bất thân. Tuy nhiên tôi cảm thấy mình được quý trọng, bởi anh ta tôn trọng tôi, không tìm cách chạm vào tôi, không sàm sỡ với tôi như những người khác; dù thế tôi vẫn cảm nhận là anh ta quý tôi lắm. Cái anh chàng kia ngồi nhìn hai đứa tôi ngồi cạnh nhau ăn cơm và ra dấu hỏi gì đó, tôi nghe tiếng Lào dĩ nhiên là không hiểu rồi. Anh Sầm Ly ngồi im không trả lời. Anh ta lấy tay ra dấu hỏi tôi và anh Sầm Ly là một cặp à. Tôi ngạc nhiên bởi vì anh ta mới gặp tôi lần đầu, tự nhiên hỏi thế, tiếng Việt gọi là vô duyên ấy. Tôi bất ngờ và nhìn qua anh chàng có nụ cười đẹp. Anh ta ngồi im chả nói gì cả.
Lúc từ bản Thẳm ra, tôi thu dọn đồ đạc và lấy ra một món đồ sẽ tặng anh Sầm Ly. Tôi lấy cái móc điện thoại có hình một điếu thuốc cháy dở và một cái đầu lâu ra. Tôi dựng xe trước nhà và cầm sẳn món đồ tặng. Thấy tôi, thay vì ngồi nói chuyện, anh ta lại lúi húi đi… nấu cơm. Tôi ngồi nghỉ trên băng ghế ngoài hàng hiên lộng gió và lấy sổ tay ra ghi chép. Anh ta thỉnh thoảng hỏi tôi gì đó. Tôi không hiểu. Anh ta khen cái món đồ tôi đang cầm trên tay đẹp. Tôi đưa cho anh ta và ra dấu nói là tôi tặng anh ta.
Anh ta lui cui lôi sợi dây có tượng Phật đang đeo trên cổ ra (lúc ấy tôi mới thấy anh đeo sợi dây ấy chứ nếu anh ta không lấy ra thì làm sao biết được) sau đó anh ta móc quà tặng của tôi vào sợi dây tượng Phật đang đeo một cách cẩn thận. Tôi thấy buồn cười quá nên quay nhìn chỗ khác (nếu không tôi phá lên cười mất).
Lúc tôi ngẩng lên, anh ta đi đâu mất tiêu. Rồi tôi thấy anh ta xách một thùng nước từ đâu đi về. Sao không xuống suối lấy nước lên nấu cho gần nhỉ? Tôi sợ tôi mà ở đó thêm thì sẽ đi không nổi bởi vì tôi thật sự quý mến anh chàng có nụ cười và ánh nhìn đẹp này vô cùng.
Nhưng các bạn biết rồi đấy, tôi không thể ở lâu một chỗ được. Tôi mà ngồi ăn cơm chung với anh ta thêm một bữa thì tôi sẽ lại ngủ ở đó thêm một đêm, ngủ ở đó thêm một đêm rồi lại ngủ thêm một đêm nữa... nên tốt hơn là đi càng sớm càng tốt.
Tôi dẹp sổ và đứng lên nói tôi đi đây. Anh ta ngạc nhiên bảo tôi ở lại ăn cơm đã. Tôi nói đã ăn ở bản Thẳm rồi. Anh ta có vẻ ngạc nhiên bởi vì tôi vừa ăn sáng khoảng 8 giờ và lúc ấy mới 11 giờ rưỡi thôi; quả thật cái anh chàng kia rủ tôi ăn lúc 10 giờ rưỡi rồi, lại là món cá nên tôi không thể từ chối.
Lúc ấy anh ta mới hỏi tôi tên gì và tôi mới nhớ ra mà hỏi tên anh ta. Anh ta bảo tên Sầm Ly. Cái tên của anh ta cũng đẹp làm sao! Tôi xin chụp anh ta một tấm ảnh. Không chia sẻ tấm ảnh này với các bạn đâu bởi vì tôi muốn giữ nó cho riêng mình. Anh ta đứng cho tôi chụp xong rồi bảo rằng anh ta không đẹp bởi chỉ mặc quần tà lỏn áo thun ba lỗ và đang thổi lửa nấu cơm. Tuy nhiên khi bạn đã quý mến ai rồi thì dù họ có ăn mặc thế nào, các bạn vẫn thấy họ thật đẹp.
Tôi thật sự quý mến anh công an Lào có tên là Sầm Ly này. Bài viết này được tôi viết sau đó cả tuần lễ nên tôi nói thêm một điều mà tôi không ngờ đã xảy ra với mình, đó là hằng đêm tôi chìm vào giấc ngủ cùng với nụ cười đẹp của anh ta.
Chả lẽ bây giờ tôi quay lại Thakhet và bảo anh ta rằng tôi quý mến anh ta sao?!
Khám phá hang động ở Thakhet
|
|
|
|
| Đường vào động Tham Pha Nong Pa Fa. |
(TBKTSG Online) - Sau khi ăn sáng với anh Sầm Ly, tôi theo chân một anh chàng thợ điện vào bản Thẳm chơi. Cũng nhờ đi theo anh ta nên tôi thấy được những cái mà khách du lịch chả thể nào “mò” ra. Anh ta dẫn tôi lên núi, nơi người ta khai thác đá để thi công hai con đường quốc lộ 12 và 13. Từ đây nhìn xuống có thể nhìn thấy cả một đoạn đường.
.
Anh ta nhảy thót lên một tảng đá và ngồi xuống như có ý chờ tôi. Nhưng tôi thừa biết là nếu tôi leo lên đó ngồi cạnh, thế nào hắn cũng dở trò sàm sỡ. Tôi có thể đọc được ý đồ của cánh đàn ông qua từng cử chỉ, hành vi của họ như đọc một quyển sách rồi.
|
| Núi đá được khai thác vật liệu làm đường quốc lộ 12 và 13 ở Lào. |
Thấy tôi làm lơ, anh ta tiếp tục leo lên đỉnh và bảo tôi theo nhưng tôi nói không leo được; vậy là anh ta xuống. Sau đó anh ta chở tôi vào một con đường toàn là cát nên anh chàng phải chỏi cả hai chân xuống để… bơi. Tôi ngạc nhiên là anh ta không bảo tôi xuống xe cho dễ chạy. Có lẽ vì đang muốn “tán gái” nên anh chàng cũng muốn “màu mè” một tí chăng?!
Theo chân “dê” vào động
Sau biển cát thì đến con đường rợp bóng tre. Anh ta dừng xe và dắt tôi đi ra sau… một bụi tre.
Hehehe, tôi biết các bạn nghĩ gì rồi! Nhưng sau bụi tre là một cái hang. Tôi lấy đèn pin ra soi. Anh ta bảo tôi chui vào trước còn anh ta ở phía sau, lợi dụng sờ mông tôi. Tôi đội nón bảo hiểm nên đụng đầu côm cốp vẫn không sao (do bực mình nên chui vào cho nhanh). Bên trong hang là các nhũ đá bị cắt nham nhở. Anh ta bảo chúng bị người Việt cắt đấy.
|
| Thạch nhũ trong hang ở bản Thẳm. |
Anh ta nắm tay kéo tôi leo lên để vào sâu bên trong hang. Trong lúc tôi đang giơ hai tay lên chụp hình thì anh ta vòng tay qua ôm eo. Tôi gỡ tay anh ta ra. Nếu tôi mà hất mạnh một tí chắc anh ta bay luôn khỏi mỏm đá cheo leo rồi. Xem chán anh ta nắm tay tôi dắt xuống.
Ra khỏi hang này, chúng tôi vào một cái hang khác gần đó. Anh ta lại sờ đùi tôi khi tôi đang chui vào trước. Bực mình quá nên tôi lại bị đụng đầu côm cốp. May mà có nón bảo hiểm. Cảnh trong hang này cũng đẹp với nhũ đá và quan trọng là nó chưa bị “khai thác”. Trong lúc tôi ngồi xuống để chụp hình, anh ta hôn vào má tôi dù tôi đang đội nón bảo hiểm. Thật là bẩn thỉu!
Sau đó anh ta chở tôi vào làng. Ngay đầu làng có một cái hang, khách tham quan phải mua vé, giá 3 ngàn kip. Hang này cũng là một ngôi chùa nên có tấm bảng ghi là du khách nữ phải mặc xà rông khi vào hang (thuê xà rông ngay ngoài cửa, giá 3 ngàn kíp). Tôi bảo mặc cái ấy rồi không leo lên núi được nên họ đồng ý cho tôi khỏi mặc xà rông. Vậy là tôi chỉ phải mua vé vào cửa thôi. Anh chàng kia được miễn phí.
Leo tuốt lên trên thì có nhũ đá. Leo lên nữa, đi ngang qua tượng Phật thì sẽ vào một cái hốc mà trong đó thờ một tảng đá có hình một ông voi. Nếu không có anh chàng này dẫn vào, tôi cũng không ngờ đến cái hốc này.
Tôi ngồi xuống chụp hình ông voi thì anh ta lại đặt một cái hôn bẩn nữa vào má tôi. Tôi thật sự bực mình, chả lẽ tôi đánh nhau với anh ta ở nơi thiêng liêng này. Lúc ấy có hai du khách da trắng vào. Họ mang cả giày và mặc quần tà lỏn. Tôi chỉ họ leo lên xem tảng đá có hình ông voi. Chả biết họ có trông thấy hay không mà loáng cái đã thấy quay ra rồi. Họ tham quan mà cứ đi tuồn tuột, leo lên rồi leo xuống chứ không dừng lại ngắm nghía này nọ. Có lẽ họ muốn tranh thủ đi xem tất cả các hang nhưng thấy cái nào cũng giống nhau.
Tôi thì không quan tâm đến những cái dành cho du khách, một khi tôi đã vào xem cái nào rồi thì xem thật kỹ, nếu không thì không vào. Đó là lý do tôi trở lại Lào chuyến này, cứ thế mà đi, không một quyển sách hướng dẫn nào cả, ngay cả bản đồ cũng không. Tôi có một cái bản đồ tải từ trên internet xuống và thỉnh thoảng mở ra xem. Thế thôi, còn lại tôi tự trải nghiệm, tự cảm nhận theo cách riêng của mình, không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ quan điểm nào cả.
Khi ra khỏi hang thì tôi thấy người nữ du khách ngồi một mình. Anh chàng hướng dẫn của tôi bảo tôi nói chuyện với cô ta. Cô ta đến từ Slovenia, lúc đầu đi một mình, sau gặp anh chàng Thổ Nhĩ kỳ nên hai người họ trở thành bạn đường. Cô ta hỏi về cách đi của tôi. Tôi kể xong, cô ta bảo cũng muốn đi như thế chứ đi hai người thì có quá trời trách nhiệm. Chắc cô ta ngán đi hai người rồi đây.
Họ bảo họ vào bản Thẳm từ một lối khác. Lúc ấy, chúng tôi lại gặp một anh chàng da trắng đến đây từ một lối khác nữa. Vậy là có ít nhất ba lối vào bản Thẳm và lối tôi đi thì không một du khách nào biết bởi vì không có bảng chỉ đường nào cả.
Anh chàng điện lực chở tôi đến cơ quan của anh ta (cơ quan có hai người) và khoe là mỗi tháng anh ta lĩnh lương hai triệu kip. Hình như mấy anh chàng này chỉ lĩnh lương thôi chứ chả làm việc gì cả. Cách làm việc của họ thật ung dung đến phát ghét!
Lúc ấy mới 10 giờ 30, anh ta lấy cơm mang theo rủ tôi ăn. Tôi bảo ăn rồi, anh ta nói ăn nữa. Chắc anh ta ăn sáng bởi vì người kia không ăn. Ăn xong tôi bảo anh ta chở tôi trở về lều. Anh ta bảo đợi anh ta tắm và hỏi tôi có tắm chung không. Không dám đâu!
Thăm hang Tượng Phật đồng đen
Quay lạy lều, tôi thu dọn đồ, anh ta ngồi bên cạnh xem và luôn miệng bảo tôi gan thật. Sau đó anh ta chia tay và đi đâu đó với một người bạn. Tôi đến căn nhà gỗ để tạm biệt anh Sầm Ly. Sau đó tôi đạp xe đến cây số 4 và rẽ vào con đường đá đỏ, bụi mù trời để đi Thẳm Phả. Chạy khoảng nửa cây số đến ngã ba thì thấy mũi tên ghi Tham Pha Nong Pa Fa. Các bạn cứ yên tâm mà đi bởi ở các ngã ba luôn có mũi tên chỉ đường. Phong cảnh ở đây cũng thật đẹp.
|
| Đường vào Tham Pha Nong Pa Fa. |
Có rất nhiều du khách Thái đến nơi linh thiêng này để cầu nguyện; vì thế anh chàng bán cà rem ngay bên ngoài có cả tờ giấy chuyển đổi từ tiền kip sang tiền Thái. Một ngàn kíp tương đương 4 baht, tiền Thái.
Gặp một nhóm khách tưởng tôi bán hàng dạo, họ hỏi tôi bán gì? Tôi mà kiêm luôn nghề bán dạo chắc cũng bán được kha khá rồi vì có rất nhiều người hỏi thế. Khi tôi kể về hành trình của mình, họ bảo kinh dị thật. Anh chàng bán cà rem thì tình nguyện trông xe giúp tôi.
Để vào bên trong thì đi ngang một cây cầu gỗ lắc lư uốn theo một ao nước. Leo lên một cầu thang là có thể vào hang.Vé cửa 2 ngàn kip; tiền thuê xà rông 2 ngàn kip. Ngay bên ngoài cửa ghi cấm chụp hình cả bằng tiếng Việt. Hang khá nhỏ nên mỗi lần chỉ được vào 15 người.
Người ở đây cho biết, hang này do một người dân tình cờ bám theo dây leo lên thì phát hiện ra. Anh ta thấy nhiều tượng đồng đen, định lấy vài pho mang về nhưng không thể nhấc được pho tượng nào lên cả. Chuyện về sự linh thiêng như thế, nhưng theo lời anh Dũng thì hang này có đến 240 pho tượng đồng đen nhưng tôi thấy không đếm số lượng ấy; nghĩa là có thể một số tượng đã bị chuyển đi nơi khác rồi (nếu con số anh Dũng nói là đúng). Tuy thế các nhũ thạch trong hang thì tuyệt đẹp. Có cái trông y hệt một cái vợt bắt cá. Có cái thì y như một bức bình phong…
|
| Thiên nhiên Tham Pha Nong Pa Fa. |
Khi du khách vào hang, sẽ có người sắp mâm lễ gồm hoa và đèn cầy, khách tùy hỉ đặt tiền vào chiếc khay rồi khấn vái, cầu nguyện. Sau đó vào bên trong có người đeo cho một sợi chỉ may mắn màu cam vào tay sau khi đọc chú (chắc để trừ tà).
Trong hang có treo một cái chiêng lớn, du khách có thể gõ; một cái lu nước và cái ca để uống. Tôi làm thử tất. Sau khi ngắm chán chê trong hang, tôi ra ngoài chụp phong cảnh xung quanh và tự chụp cho mình vài bức hình.
Khi ra ngoài, tôi lại ghé vào bản ở cây số 3 mua chuối và củ sắn. Ông chủ quán, chắc hơi xỉn, bán rẻ ơi là rẻ sau khi… khen tôi đẹp. Tôi vội trả tiền để bỏ đi trước khi ông ta tìm cách sàm sỡ. Tôi mua tất cả là 5 ngàn kíp nhưng đưa tờ 10 ngàn, ông ta không nhận lại cứ đòi lấy tờ 5 ngàn bị cháy xém một tí mà tôi nhặt được ở chùa bản Phon Phon.
Ra khỏi bản, tôi còn ghé vào một trong những hàng dưa hấu bày dọc đường mua một quả giá 5 ngàn kip nữa. Có đủ lương thực rồi, tôi trực chỉ hướng nam đi Seno. Lúc ấy đã 4 giờ chiều.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét