|
|
| Quốc lộ 13 ở phía Nam Lào tuy cũng có nhiều đoạn lên xuống dốc liên tục nhưng rất dễ đi. |
(TBKTSG Online) - Ở Thakhet dọc theo đường quốc lộ 13, hai bên đường đầy các hàng quán của người Việt. Bến xe khách của Thakhet cũng nằm trên đoạn quốc lộ 13 này. Lúc ra khỏi Thakhet thì trời đã chiều, nên tôi chỉ đạp xe khoảng 10 cây số rồi rẽ vào một ngôi chùa ở bản Na Don.
Sư ông bảo tôi không ngủ trong chùa được. Đúng lúc ấy có một người dân đi ngang qua, ông ta hỏi tôi đi đâu. Tôi nói tôi đi xe đạp hơn 2 ngàn cây số mới đến được đây. Vị sư tỏ vẻ không tin.
Tôi đẩy xe ra, hỏi người dân ở ngay trước cổng, họ bảo tôi vào chùa mà ngủ. Cả ông trưởng xã cũng bảo tôi có thể vào ngủ trong chùa được. Một bà còn nói với vào trong chùa, chắc ý muốn nói để sư cụ nghe được. Tôi được chỉ vào một nhà sàn khá lớn, trước đây được dùng làm chính điện. Nay vì lý do an toàn nên tất cả tượng Phật đều được chuyển vào nơi các sư ở và có khóa cổng sắt. Nhà chùa mà còn khóa cửa cẩn thận sợ bị mất cắp đến thế thì quả thật là an ninh ở đây có vấn đề rồi các bạn nhỉ?!
Lúc tôi ngồi đọc truyện thì có hai người cùng ông trưởng xã vào, kiểm kê tài sản của tôi và đòi xem hộ chiếu. Họ ghi chép một hồi bằng tiếng Lào rồi đưa tôi xem. Dĩ nhiên là tôi không đọc được rồi. Tôi đoán rằng việc này là trưởng xã muốn làm vừa lòng nhà sư thôi. Sau đó tôi mới thấy sư vào đóng cửa lại ngủ.
Tôi ngủ thật ấm và ngon trong lều của mình bên trong nhà sàn dù bên ngoài trời nổi gió ầm ầm. Dân chúng ở đây cúng dường sớm thật, mới 6 giờ họ đã làm lễ. Tôi ra chợ ngay trước cổng chùa mua thức ăn mang theo. Trước khi đi, tôi ghé lấy nước uống và “tám” với sư một tí.
Chạy xe ra ngoài thì thấy hàng quán khá nhiều. Tôi dừng lại ở quán cuối cùng; đó là quán của một Việt kiều gốc Hà Nội. Bà ta bảo ở Thakhet có nhiều người Việt, nhưng riêng ở bản này chỉ mỗi mình bà ta là người Việt. Thế nhưng con cháu bà lại không biết một chữ tiếng Việt nào cả. Bà ta cũng cho tôi biết rằng ở vùng này thanh niên Lào hút thuốc phiện nhiều lắm nên dù đi xe ban ngày trên đường quốc lộ cũng có khi nguy hiểm; bọn họ thấy đi một mình thì có thể tấn công để trấn lột.
Tôi mua gà, cá, nem, cơm, bánh chưng và một cái trứng ngan đem theo. Tổng cộng 17 ngàn kip (khoảng hai đô Mỹ) cộng thêm 6 ngàn kip mua tại chợ buổi sáng, vậy là đủ thực phẩm cho cả ngày rồi. Sang rồi đấy nhé! Hôm nào ăn ké ở chùa tôi xài chưa đến 10 ngàn kip. Vì thế hơn 1 tháng rưỡi từ Lào sang Thái rồi lại về Lào, tôi vẫn chưa xài hết 200 đô Mỹ.
|
| Hai bên quốc lộ 13 ở Nam Lào toàn thấy những đồng lúa, ruộng mía và rải rác cây cối... không có đoạn nào gần sông Mê Kông. |
Chạy ra khỏi Thakhet chừng 45 cây số thì đến Cô Xê, nơi này người Việt ở khá đông. Có công ty Vilaco (công ty Việt Lào) chuyên sản xuất thạch cao. Dọc hai bên quốc lộ là các nhà hàng cơm phở của người Việt.
Quang cảnh dọc quốc lộ 13 ở phía Nam chán phèo. Nếu không có bản làng thì hai bên đường toàn là đồng cỏ hoặc ruộng lúa, ruộng mía, hoặc là rừng cây. Chỉ có mấy con suối mà đi xuống lấy nước rất khó; sông Mê Kông thì không nằm gần con lộ này.
Một đêm vất vả, phập phồng
Khoảng 20 cây số nữa đến Seno thì trời tối. Tôi nhìn hoài không thấy cái chùa nào cả. Ghé vào một cây xăng xin nước uống và hỏi thăm thì họ bảo chạy thêm 2 cây số nữa. Đúng là có thiệt nhưng chùa tắt đèn tối thui và không có nhà sư nào ở cả. Làm sao dám ở?!
Đạp thêm một đoạn, tôi dừng lại hỏi thăm, trúng ngay một thanh niên trông y như xì ke. Thêm một thằng bé chừng 15 tuổi đi ra từ ngôi nhà gần đó. Hai đứa cứ săm soi hành lý của tôi và hỏi tôi có gì trong ba lô. Tôi ra dấu bảo là quần áo. Thằng bé bảo vào nhà nó ngủ. Đó là căn nhà có bậc thang lên trên và bên dưới trống trơn, chỉ có một cái giường tre. Lúc ấy, có một phụ nữ ăn mặc “mát mẻ” ngồi trên giường nói chuyện điện thoại.
Người phụ nữ ấy cũng là chị gái của thằng bé 15 tuổi và người thanh niên 24 tuổi mà tôi hỏi thăm đường hồi nãy. Ngồi một hồi, tôi đoán hai thằng nhóc này đều nghiện. Bọn chúng to nhỏ với nhau và kêu người chị ra một góc nói nhỏ gì đó. Chị ta lấy tiền đưa rồi quay lại giường ngồi; khuôn mặt như muốn khóc. Hai thằng này hút thuốc liên tục. Có vài thằng nữa đến bằng xe máy. Bọn chúng kéo nhau ra sân, to nhỏ chuyện gì đó.
Trước đó, nhóc 15 tuổi cứ theo hỏi tôi mãi là trong giỏ có gì, đi du lịch thì chắc có nhiều tiền lắm đây. Tôi bảo nếu có nhiều tiền thì tôi không đi xe đạp rồi; tôi ăn ngủ trong chùa nên không có tiền đâu. Nó nói chắc phải có tiền mua thức ăn chứ. Tôi không trả lời. Thằng nhóc bảo chịu cưới thằng anh nó không. Tôi trả lời luôn không chịu. Nó hỏi tại sao. Tôi bảo tôi lớn tuổi hơn. Nó bảo ở Lào điều đó là bình thường. Thằng anh nó bảo thậm chí ở Lào ở tuổi tôi còn có thể lấy chồng tuổi 15 nữa cơ. Tôi bảo tôi là người Việt không phải người Lào.
Bọn chúng còn gạ gẫm tôi mua xe máy. Chiếc xe Trung Quốc cũ mèm mà đòi bán cho tôi giá một ngàn đô Mỹ. Tôi bảo, xe Honda ở Việt Nam rẻ rề, mắc gì tôi mua xe chúng. Thấy tôi có vẻ không “ngon ăn” tí nào nên bọn chúng lại ra sân bàn bạc. Tôi hỏi người chị đường đến chùa. Chị ta bảo đi 2 cây nữa thì đến phổn hay phủn gì đó; chả biết đó là cái gì mà sao nghe nhiều người nhắc đến nó. Nhưng dù sao đến nơi ấy chắc cũng an toàn hơn ở một nơi đầy bọn xì ke nên tôi lấy đèn pin ra đội vào đầu và chuẩn bị lên đường.
Thì ra đó là một cái nhà thờ. Bên cạnh là một căn nhà còn sáng đèn treo đầy hình Đức Chúa Jesu và Đức Mẹ Maria. Tôi vào hỏi thăm, một cô gái có vẻ là cô giáo của bọn trẻ bảo không ở được. Tôi hỏi đây là gì, cô ta bảo đây là chùa (?!). Tôi hỏi, chùa thì sao không được ở? Bọn con nít lao xao đứng xung quanh thỉnh thoảng chỏ vào nói vài câu. Chả hiểu con nít ở đâu ra mà nhiều thế.
Trời tối đen, đạp xe đi giờ này rất nguy hiểm, nên tôi hỏi lại cô giáo ấy, nếu ở đây không được thì tôi có thể ngủ ở đâu? Cô ta nói gì đó với bọn trẻ; bọn chúng dẫn tôi ra bên ngoài. Tôi tưởng họ chỉ tôi chỗ nào có thể ngủ được hoặc họ khóa cửa để ra về. Nhưng không, cả bọn đứng giương mắt lên nhìn và bảo tôi đạp thêm 20 cây số nữa đến Seno luôn, ở đó có nhà nghỉ. Xong, cả bọn trở vào và khóa cửa lại.
Không thể trông cậy gì sự giúp đỡ ở ngôi nhà thờ này nữa, tôi đành đạp xe đi và thấy hơi đắng miệng một tí.
Những người đầy cảnh giác
Tôi đi qua một bản khác thì thấy trước cửa nhà một người dân có một cái lều hơi giống cái lều của tôi. Định ghé vào hỏi thăm thì bọn chó đáng ghét sủa ỏm tỏi nên tôi đành bỏ đi luôn.
Sau lưng một cái quán là một khoảng sân có cây me tây, bên cạnh gốc me có một cái chõng tre, bên trong là một ngôi nhà xây. Một nơi lý tưởng để cắm trại ngủ. Tôi dừng xe và vào gõ cửa hỏi xin dựng trại ngủ dưới gốc me tây. Bà cụ bảo không được và nói đến nhà thờ mà ngủ. Tôi bảo, tôi đến rồi nhưng họ không cho ngủ. Lúc ấy ông cụ đi ra, tôi kể hết sự việc. Hai ông bà đứng ngần ngừ không biết trả lời sao. Tôi đợi một chút không thấy họ nói năng gì nên tự động lấy lều ra trải.
Ông cụ điện thoại cho ai đó mà tôi đoán là cho công an khu vực. Ông bảo có một du khách đang cắm trại ngủ trước nhà (lạ chưa, tôi nghe ra tiếng Lào luôn đấy!). Ông lão có vẻ tốt bụng hơn bà lão nhiều. Khi tôi hỏi nước rửa mặt thì ông cụ còn lấy chìa khóa mở cửa quán để vào trong bật công tắc đèn cho tôi sử dụng cái lu nước nằm bên ngoài. Tôi cảm ơn cụ và bảo tôi không cần đèn. Cụ tắt đèn, khóa cửa đi ra. Cụ còn bảo tôi ra nhà sau tắm nữa. Tôi bảo sáng hôm sau sẽ tắm còn bây giờ thì mệt quá nên chỉ muốn ngủ.
Buổi sáng họ dậy khá sớm, còn tôi nướng đã rồi mới chịu ra. Tôi lấy quần áo ra và vì trông thấy bà cụ nên lịch sự hỏi lại nhà tắm ở đâu chứ lúc tối ông cụ đã chỉ cho tôi rồi. Bà cụ ngần ngừ một hồi rồi chỉ ra nhà sau nhưng nói không có nước. Tôi cầm quần áo ra. Nước đầy hồ nhưng tôi không muốn nghĩ bà cụ nói xạo mà tôi nghĩ chắc nước này họ dùng cả ngày. Bỏ ý định tắm táp, tôi chỉ rửa mặt đánh răng thôi.
Hơi bất ngờ khi bà lão hỏi tôi bao giờ thì đi, chắc tôi ở đó làm bà luôn cảnh giác sợ tôi chôm món gì chăng? Thái độ của bà cụ làm tôi không muốn hỏi xin nước uống mà lấy chai ra cho nước lã vào để dành rửa tay bởi tôi định sẽ mua một chai nước khác. Con trai bà từ quán đi ra thấy thế bảo tôi nước ấy không uống được. Anh ta dẫn tôi vào quán chỉ vào bình nước 20 lít và hỏi han tôi vài câu.
Chia tay họ xong, tôi đạp xe đi thì thấy một ngôi chùa bên tay trái, cách nhà họ chừng 100 mét. Đạp xe qua làng bên cạnh thì thấy một bà lão đang cho bánh canh vào bịch. Tôi dừng lại hỏi thì bà bảo 3 ngàn kip, 5 ngàn kip, còn mỗi bịch nhỏ thì 2 ngàn kip. Bánh canh của bà nấu với thịt gà, huyết và cá viên ăn khá ngon. Tôi hỏi mua thêm 2 ngàn cơm nếp. Ở đây họ uống trà Lâm Đồng Việt Nam, tôi thấy cả gói trà còn bao bì tiếng Việt nên hỏi họ thì họ bảo trà ngon lắm.
Con đường quốc lộ 13 cũng lên xuống dốc. Nhưng những chuyện tôi gặp trên đoạn đường từ Thakhet đến đây thật nặng nề khiến tôi thấy mệt mỏi khi vượt 20 cây số cuối để đến Seno.
Năm ngày đạp xe 250km đến Pakse
|
|
|
|
| Bà mẹ này chỉ khoảng 38 tuổi mà có đến 5 con, đứa lớn nhất 13 tuổi, thàng bé nhỏ nhất 2 tuổi đứng cạnh mẹ. |
(TBKTSG Online) - Tôi chạy thẳng quốc lộ 13 và rẽ theo mũi tên chỉ đường. Trời chập choạng tối. Trên cách đồng chỉ còn gốc rạ, mấy đứa trẻ vẫn mải mê thả diều. Nhìn thấy một giếng nước, tôi dừng xe ngắm nhìn khung cảnh thanh bình này và quyết định sẽ ngủ tại đó.
.
Vào nhà người dân gần đó, tôi nói muốn cắm trại ngủ trên đồng rạ. Chị chủ nhà ngần ngừ, còn đứa con gái 13 tuổi của chị có vẻ hào hứng ra mặt. Chị ta mới 37 - 38 tuổi gì đó mà có đến 5 con, đứa lớn nhất 13 tuổi, đứa nhỏ mới lên 2.
Tôi đi một vòng và dừng lại cạnh đống rơm sau nhà họ, nơi có vài con trâu nằm vẫy đuôi đuổi muỗi. Trâu ở Lào bụng lúc nào cũng căng tròn, trông thật dễ thương. Tôi nói tôi sẽ cắm trại bên đống rơm; bọn con nít ùa đến lùa rơm xuống phụ tôi. Dựng lều xong, tôi ra cây nước tắm rửa. Đứa con gái hướng dẫn cách sử dụng. Sau đó bọn nhóc vào nhà ăn tối nên tôi được tự do thay đồ.
|
| Con gái đầu, 13 tuổi, của chị chủ nhà. |
Ăn xong bọn chúng mang một cái chiếu, một cây sào và một cái đèn pin ra. Bọn chúng chôn cây sào xuống rơm, trên cây sào là cắm đèn pin; chúng trải chiếu nằm chơi gần lều của tôi.
Lát sau, một phụ nữ đang mang bầu đi ra; đó là bà chị của chị chủ nhà. Chị ta bảo đã có 3 con gái rồi. Tôi đoán chị ta xấp xỉ 50 tuổi, chắc ham có con trai chứ gì? Mọi người xúm lại ngồi nói chuyện. Tôi lấy bản đồ Việt Nam ra chỉ cho họ xem Sài Gòn nằm ở đâu và lấy sách Việt - Lào ra để nói chuyện với họ.
Lúc sắp đi ngủ thì mọi người bàn bạc với nhau bằng tiếng Lào, đại ý là bảo tôi nên vào nhà ông phó bản ngủ cho an toàn. Tôi mệt họ ghê! Tôi cắm trại xong xuôi hết, họ mới nói. May là đứa con gái chạy đi rồi chạy về bảo nhà phó bản ngủ rồi.
Họ hỏi tôi có gối, mền chưa và dặn dò tôi đủ thứ; họ bảo tôi đóng cửa lều lại, ai gõ vào lều giữa đêm thì đừng ra ngoài. Tôi ra ngoài khóa xe cả ba vòng khóa; khóa bánh trước, bánh sau, xích vào cột thì mới yên tâm ngủ được. Bị “hù dọa” nhiều quá nên cũng biết sợ chứ bộ!
Sáng, đứa con gái 13 tuổi ra kêu tôi dậy, bảo tôi đưa rổ mây cho nó đi lấy cơm. Buổi tối họ thấy tôi ăn cơm với chuối nên tưởng tôi ăn chay hay không ăn được thức ăn Lào gì đó. Tôi ăn cơm với trái cây cho nhẹ bụng sau mấy ngày ních thịt rồi. Đứa con gái xúc cho tôi một rá cơm đầy nhóc nhách.
Mọi người lại ra trước lều ngồi xếp hàng dài để xem… tôi. Tôi lấy hai cái bút chì ra tặng cho thằng nhóc học lớp 2 và thằng nhóc học lớp mẫu giáo. Tôi lấy đồ chuốt ra chuốt giùm luôn nên bọn trẻ thích lắm.
Qua bản kế tiếp, có người gánh khợp pun đang ngồi bán trước nhà một người dân. Tôi mua 2 ngàn khợp pun ăn vừa mặn vừa cay, chả ngon tí nào. Mấy đứa con gái tưởng tôi bán hàng dạo nên hỏi tôi có phấn trang điểm không? Bọn con gái ở Lào mới 12-13 tuổi đã thoa kem trét phấn. Nhưng có điều chúng không sử dụng kem nền và tôi chắc là cũng không biết cách tẩy trang nên trong vài năm tới có lẽ da mặt chúng sẽ hư hết. Các bạn mà sang đây buôn mỹ phẩm phục hồi da hư chắc chắn sẽ có ăn đấy.
Bắt đầu từ bản này, ở Lak 6 hay 7 gì đó theo cột cây số, gió thổi mạnh kinh khủng. Tôi đi một hồi thì đến Lak 35, nơi này có trường trung học và cũng là nơi tấp nập hàng quán; người bán xách mấy que thịt gà thơm nức ra mời mua, 2 ngàn kip/que, đùi gà 5 ngàn kip. Tôi mua một bịch bún xào 2 ngàn. Trứng cút bán đắt kinh khủng, một bịch nhỏ xíu có khoảng 5 trứng giá 5 ngàn kip rồi.
|
| Các phòng học tuềnh toàng, trống trải trong ngôi chùa của một bản trên đường đi Paksan. |
Gió thổi mạnh quá. Dù dùng hết sức để kềm xe mà tôi xém bị bay xuống ruộng đến mấy lần. Cả tôi lẫn xe và hành lý cộng lại gần 100 ký, vậy mà sức gió thổi muốn bay luôn.
Có lần tôi đi ngang qua một ngôi chùa, cái cổng xây rất đẹp nhưng trường học nằm bên trong sân chùa thì trống thông thốc, có tổng cộng 4 lớp được chia theo lứa tuổi. Bọn chúng mặc đồng phục là áo trắng nhưng có đứa không có áo trắng mà mặc. Tôi hỏi vì sao; chúng bảo không có tiền.
Đến Paksan
Càng về phía Nam thì ở các thị trấn lớn, càng thấy nhiều bảng hiệu tiếng Việt. Tôi đi vào Paksan, khắp nơi đều có người Việt ở. Tôi chạy luôn (thật ra, lúc ấy tôi chưa biết đó là Paksan).
Thấy một cái chùa có cái cổng khá ngộ, tôi dừng lại chụp hình, sẵn chạy luôn vào trong xem. Một ông lão đang đốn một cái rễ cổ thụ khá to nằm ngay trước chính điện vừa mới xây. Tôi ngồi nói chuyện và hỏi thử cắm trại ngoài bãi cỏ sau chùa được không. Một sư bảo được còn chú tiểu thì bảo không. Tôi đi khảo sát địa hình. Sau lưng là một hồ nước mà xung quanh nó là các tảng đá đen. Tôi nhắm xong chỗ hạ trại rồi đẩy xe vào rồi cắt hoa lau lót dưới đất, ôm đồ ra hồ nước tắm và giặt. Lúc ấy trời nhá nhem tối, chỉ một mình tôi bên hồ nước nên vừa tắm vừa sợ... có cái gì từ dưới nước nhô lên kéo tôi xuống hồ.
Buổi tối, các sư tụng kinh ê a qua micro. Sáng mới 3 giờ các sư đã dậy đánh trống, tụng kinh. Tôi nằm nướng đến khi trời sáng mới dậy dọn dẹp, xin nước uống xong là lên đường, không ăn ké nữa (ăn riết ngán chết!).
Trên đường đi, tôi gặp một anh nói giọng Huế, gia đình mở quán cơm ở Paksan. Anh nói là đang đem xe về Pakse sửa vì ở Paksan không có phụ tùng thay thế. Anh ta vừa chạy vừa bán bánh mì dạo kiếm tiền bù vào tiền xăng. Nghe vậy bái phục quá, dân Việt mình luôn chịu khó và biết đủ cách kiếm tiền. Ổ bánh mì nhỏ xíu, ai mua thì anh ta lấy dao xẻ dọc và rưới sữa đặc vào, bán giá 1 ngàn kip/ổ. Ăn không tệ, nên tôi mua luôn 4 ổ. Lúc đứng nói chuyện thì người dân kéo đến mua cũng khá đông. Anh ta tặng tôi cây cà rem giá 1 ngàn kip và chia tay để lên đường.
Quả là có nhiều cách kiếm tiền ở Lào. Tôi thuật lại tất để bạn nào giỏi thì có thể vừa đi du lịch vừa kiếm tiền bù chi phí, có khi dư tiền mang về Việt Nam nữa đấy. Tôi không giỏi việc này lắm nên chỉ ghi chép và kể lại thôi.
Ở phía Nam, người Lào vẫn dùng tiền Thái để mua bán. Một ngàn kip bằng 4 baht. Họ có thể thối lại bằng tiền kip hoặc baht nếu bạn đưa baht ra để thanh toán.
Ngủ lều
Buổi chiều, tôi lẻn vào một ngôi chùa có khuôn viên khá lớn, sau lưng chùa là một khu cỏ dại. Không thấy ai nên tôi đi vào và thấy rất nhiều chỗ có thể dựng trại. Lúc quay ra thấy một nhà sư, tôi đến hỏi, sư nói gì đó mà tôi không hiểu; sư lại bỏ đi vào chánh điện. Tôi không hỏi nữa mà đẩy xe ra sau chùa dựng trại luôn. Tôi chui qua một hàng rào kẽm gai, định ra cái ao súng để tắm, nhưng nước dơ quá nên tôi lên dùng ké nhà tắm của chùa. Lúc ấy là giờ tụng kinh nên không ai để ý. Khi quay lại tôi thấy đèn pin sau hàng rào, chắc người ta đi bắt cóc nhái gì chăng. May là cái lều ở xa hàng rào nên ánh đèn nhoang nhóang nhưng chả ai thấy.
Vậy là tôi ngủ đến sáng, thức dậy thu dọn và dùng nước trong cái hồ của nhà chùa. Mọi người đang cúng dường nên không ai để ý cả; vả lại cũng cách khá xa. Mấy khúc mía tôi mua từ hôm trước bị kiến bu đầy, chúng bò cả vào phần cơm nên tôi phải đổ ra đất cho chó hay chim gì đó ăn. May là ban đêm, tôi để thức ăn xa lều nên bọn chúng không chui vào lều quấy rối.
Thu dọn xong tôi đẩy xe lên phía trên. Hình như hôm ấy là ngày lễ gì đó mà mọi người dâng khá nhiều thức ăn cho sư (chùa này chỉ có một ông sư thôi). Tôi vào chùa, định lễ Phật. Họ thấy tôi không ăn cơm nên đưa bánh chưng và bí rợ luộc; tôi hết dám ăn (nấu sống nhăn) nên chỉ ăn ít thôi; sau đó ra trước tượng Phật ngồi một tí lấy sức lên đường.
Làm mặt lì ở chùa bản Napho
|
| Người dân cúng dường ở chùa bản Napho. |
Tôi đạp xe đi khoảng 20 cây thì dừng lại ở trước ngôi chùa của bản Napho (cách Pakse khoảng 70 cây số). Lúc ấy là giờ cơm trưa. Có quá nhiều bài cần phải đánh máy nên tôi vào chùa, mở máy tính và căm cụi gõ gõ. Họ dọn cho tôi một mâm và mời tôi ăn. Tôi dẹp máy, bưng mâm ngồi ăn gần họ. Họ có món bắp cải cuốn thịt hầm, món này của Việt Nam, ăn khá hợp khẩu vị. Tôi sợ ăn bốc rồi nên lấy đũa ra ăn dù đó là cơm nếp. Một phụ nữ lấy cho tôi cái dĩa; tôi cho một ít cơm nếp vào dĩa và gắp thức ăn để ăn y như khi ăn cơm gạo tẻ. Bọn họ ngồi nhìn tôi ăn và bàn tán xôn xao. Có lẽ họ không biết tôi là người Việt mà ngỡ tôi là người châu Âu!
Tôi hỏi họ ngủ ở trong đấy được không. Họ bảo được và dặn tôi không dùng toilet trong chùa, khi cần đi vệ sinh hoặc tắm rửa thì ra nhà phó bản ở cạnh đó, không ngủ gần tượng Phật.
Khi tôi hỏi họ vì sao ai cũng có cái khăn thắt qua ngang người; họ bảo đi chùa phải có khăn này, khi lạy thì hai tay không để dưới đất mà để lên khăn. Bây giờ thì tôi hiểu công dụng của cái khăn mà họ hay choàng rồi. Một phụ nữ đưa cho tôi một cái của chị ta và bảo tôi mang theo luôn. Đó là cái khăn bông trắng, loại khăn tắm nhỏ. họ có thể vắt khăn truyền thống của Lào hay khăn bông đều được miễn sao có khăn thôi.
|
| Khoảng 6 giờ sáng, có một phụ nữ đưa con gái đến để nhà sư làm nghi lễ gì đó. |
Đến lúc đó họ mới hỏi tôi là người nước nào; tôi nói Việt Nam. Họ ớ lên ngạc nhiên và bảo mấy đứa học sinh lúc trưa đi qua thấy tôi chào hỏi bằng tiếng Anh đã bảo với họ rằng tôi là người châu Âu hay người Mỹ gì đó. Thật lạ! Rõ ràng tôi có khuôn mặt châu Á cơ mà!
Sau khi cơm nước xong, mọi người về nhà còn tôi lại ngồi gõ tiếp. Chiều, tôi chạy qua trường học ở cạnh đó để đi toilet và tìm chỗ tắm; có giếng nhưng không có thùng hay thau gì cả mà tôi lại ngại vào nhà dân hỏi mượn nên… ở dơ luôn.
Tối, sư vào hỏi tôi ngủ ở đâu; tôi chỉ luôn xuống đất; sư bảo tôi vào nhà phó bản ngủ. Tôi vâng vâng dạ dạ rồi lại chăm chú gõ. Mấy con chó đáng ghét, tôi ra ngoài để đi toilet thì chúng sủa ỏm tỏi nên tôi không dám bước chân ra khỏi chánh điện nữa. Thậm chí xe đạp của tôi bị gió thổi ngã, tôi cũng không dám ra để dựng lên.
Tôi ngồi gõ máy tính đến 1 giờ sáng mới xong hết các bài viết. Sau đó tôi mặc áo ấm, mang vớ và lăn luôn ra sàn ngủ đến 5 giờ sáng, khi sư vào quét dọn chánh điện thì mới dậy. Sư thấy tôi thì rất ngạc nhiên nhưng không nói gì cả và tôi cũng im lặng thu dọn. Sau khi đánh răng rửa mặt, tôi lại gõ tiếp cho xong. Khi những người cúng dường đến; họ nhìn tôi ngạc nhiên thì tôi biết họ khác với những người tôi ăn cơm trưa chung vào ngày hôm trước. Ở đây họ cúng dường sớm quá nhỉ?
Trở lại Pakse
Tôi đẩy xe đi vào lúc gần 7 giờ và dừng ở một ngã ba, nơi có nhiều quán xá để mua một con cá nướng giá 10 ngàn kip, 2 ngàn cơm nếp và 5 nghìn đầu cổ chân gà nướng. Tôi ghé vào dãy ghế đá của một nhà dân xin phép họ ngồi ăn cơm; một người đàn ông đến, muốn bắt chuyện nên hỏi tôi có nước uống chưa, tôi nói có rồi, ông ta đi vào nhà luôn.
|
| Cổng vào nghĩa trang Việt kiều ở ngoại ô Pakse. |
Tôi tiếp tục đạp xe qua các bản, đi mãi rồi cũng đến ngoại ô của Pakse vào lúc chiều, lại ghé mua một quả dưa giá 5 ngàn, một quả bưởi giá 2 ngàn, chua loét. Còn khoảng 8 - 9 cây số nữa là vào trung tâm Pakse thì tôi thấy cái nghĩa trang Việt kiều.
Vừa tức cười vừa bực mình, có mấy ông công an giao thông nhìn tôi, hất mặt hỏi sẵng: “Khải nhẳng?” (bán gì?). Tôi cóc thèm trả lời; trong bụng nghĩ họ mà hỏi nữa thì tôi sẽ trả lời: “Khải tăm luộc Lạo” (bán công an Lào) cho bõ ghét, ai bảo hất mặt với tôi làm chi.
Qua khỏi sân bay, đường phố Pakse từ từ hiện ra trước mặt. Tôi chạy theo đường quốc lộ 13, ngang qua một nhà hàng Ấn, mấy người nước ngoài nhìn tôi ngỡ ngàng.
Vậy là cuối cùng tôi cũng trở lại Pakse. Hai năm trước tôi đến đây và không khỏe lắm do “ngất ngư” xe đò ở Lào. Bây giờ đạp xe vào Pakse, tôi hy vọng sẽ thấy nhiều điều hấp dẫn bởi đây là nơi người Việt lập nghiệp đông nhất ở nước Lào.
Cộng đồng người Việt đông nhất ở Lào
|
|
|
|
| Một góc thị xã Pakse. Xa xa là cầu Hữu nghị Nhật-Lào bắc qua sông Mê Kông. |
(TBKTSG Online) - Pakse là một thị xã, tỉnh lỵ của tỉnh Champasak ở hạ Lào, cũng là huyện lỵ huyện (muang, mường) của huyện Pakse. Thị xã này tọa lạc tại hợp lưu của hai con sông Xedone và Mê Kông, là cửa ngõ vào cao nguyên Bolovens. Pakse từng là kinh đô của Vương quốc Champasak, cho đến năm 1946 khi Vương quốc Lào được thành lập.
.
Kể từ khi có cầu Hữu nghị Nhật-Lào bắc qua sông Mê Kông (do Nhật Bản viện trợ) nối liền hai phần của Champasak hai bên bờ và với tỉnh Ubon Ratchathani của Thái Lan, Pakse trở thành một trung tâm thương mại của Lào.
Khi đến cửa ngõ Pakse, hình ảnh đầu tiên gây sự chú ý của tôi là một tấm bảng du lịch thật to với những chỉ dẫn khoảng cách từ Pakse đến những nơi tham quan của Champasak. Và tấm bảng bán vé xe đò đi thẳng từ Pakse qua Campuchia về Sài Gòn.
|
| Bảng chỉ dẫn các tuyến du lịch ở tỉnh Champasak. |
|
| Phòng vé xe khách Minh Vũ ở Pakse. |
Ghé vào hỏi, được biết hành trình này đi mất 12 tiếng, giá vé cho mỗi chiều tương đương 50 đô la Mỹ. Từ Sài Gòn chỉ mất một ngày ngồi xe, các bạn đã có thể đến Pakse, nơi có đông người Việt nhất ở Lào. Vậy là có tin vui cho bạn nào từ Sài Gòn muốn sang Lào mà không muốn đi vòng ra miền Trung.
Sang Lào, các bạn cứ nói tiếng Việt; gặp người Lào có khi họ không hiểu, nhưng sẽ có nhiều người Việt ở gần đó nên ít nhất có ai đó hiểu bạn và sẽ làm thông dịch cho bạn với người Lào. Nếu ở Lào mà đi đâu cũng “xổ” tiếng Anh, có thể bạn sẽ gặp khó khăn nhiều hơn đấy.
Cách đây hai năm, tôi đã ở nhà trọ Sabaidee Guesthouse 2, nhưng lần này không có bản đồ, không có sách hướng dẫn nào cả nên tôi không biết tìm nó ở đâu. Cũng chả sao, tôi cứ đạp xe lòng vòng trong ánh mắt “ghen tị” cũng mấy du khách nước ngoài. Tôi nhớ mang máng là nhà trọ Sabaidee nằm gần nhà hàng Xuân Mai nên nếu tìm ra nhà hàng này thì có thể truy ra nó. Đi loanh quanh vào trung tâm thương mại Pakse, trở ra bờ sông rồi vào các khu phố bày hàng bán đầy đường… đạp mãi vẫn không thấy Sabaidee đâu!
Trời mưa! Tôi ghé đại vào một nhà nghỉ; phòng giá rẻ nhất là 60 ngàn kip nhưng họ hết loại phòng đó, chỉ còn phòng 80 ngàn kip. Làm ăn kiểu Lào buồn cười lắm, họ chả cần khách hàng làm gì, ai thích thì ở không thì thôi, chứ chả chèo kéo, chào mời lôi thôi; đắt khách thì hưởng, ế thì dẹp tiệm tìm cái khác mà làm. Một lối sống đơn giản, không nhiều bon chen, giành giật. Đó là lý do rất nhiều người Việt sang Lào làm ăn bảo rằng ở chung với người Lào dễ hơn ở với người Việt nhiều. Nếu thấy cửa hàng của bạn đắt khách hơn của họ, họ không ghen tị mà còn mừng cho bạn nữa đấy. Khách vào cửa hàng ai thì người nấy bán chứ không bao giờ có chuyện giành giật khách của nhau.
Tôi lại đạp xe ra chợ mới Pakse, nằm ngay trên quốc lộ 13. Tại đây có hàng bánh mì; do lúc ấy trời chiều tối rồi nên bán rẻ cho tôi 4 ổ 10 ngàn kip (loại bánh to mà lúc thường người ta bán 4 ngàn kip/ổ); nhiều quá nên tôi không mua mà mua bánh nhỏ hơn, 2 ngàn kip/2 ổ. Cô bán bánh vừa thấy tôi ghé vào quầy là nói tiếng Việt luôn.
Lúc ấy chị hàng thịt cạnh bên hỏi tôi bằng tiếng Lào, tôi không hiểu, chị nói tiếng Việt. Đó là chị Nga, Việt kiều ở Pakse, sinh đẻ ở đó và nói tiếng Việt và tiếng Lào đều giỏi như nhau. Tôi kể lại hành trình đạp xe của mình. Chị nể quá nên dịch lại tiếng Lào cho tất cả những người có mặt ở gần đó. Cứ người Lào nào đến thì chị đều kể cho họ nghe về tôi một cách vô cùng hào hứng. Điều mà tôi nhớ nhất là sau khi kể xong chị luôn nói một câu đầy tự hào: Đây là người Việt Nam đó!
Khi tôi hỏi họ nhà trọ giá rẻ ở đâu thì họ chỉ tôi đường đến chùa Long Vân ở trong xóm nhà Đèn. Họ bảo ở đó có rất nhiều phòng và chỉ cách chợ khoảng 1 cây số thôi. Họ bảo vào đó ở sạch sẽ, có thể ăn cơm chay cùng mọi người luôn.
Chỉ cách một cây số mà tôi mất hơn 1 tiếng đồng hồ vẫn không tìm ra. Vậy là tôi lại lạc đường. Tôi ghé vào một tiệm tạp hóa của người Lào hỏi thăm, gặp một anh người Lào đang mua hàng, bảo tôi chạy theo xe anh ta. Anh ta dẫn tôi vào một ngôi chùa Việt Nam khác. Tuy nhiên sư cô bảo nơi ấy không có phòng và chỉ tôi đường đến chùa Long Vân. Không muốn anh chàng kia bám theo, tôi bảo tôi đi một mình được.
Thì ra, đường vào chùa Long Vân cũng là đường đến nhà trọ Sabaidee 2 (www.sabaidy2tour.com). Tôi ghé vào Sabaidee 2 thì hết sạch phòng, chỉ còn phòng đôi ở tòa nhà mới, giá 95 ngàn kip mà thôi. Một nhà nghỉ khác có tên là Thaluang thì cho giá 100 ngàn kip.
|
| Cảnh sông nhìn từ chùa Long Vân. |
Tôi lại hỏi đường đi chùa Long Vân. Nếu muốn ở ké chùa Long Vân thì các bạn trước tiên tìm đường đến nhà trọ Sabaidee 2. Đến đó rồi, hỏi người Việt hay người Lào thì ai cũng biết chùa này cả. Ngoài ra ngay đầu đường vào chùa có cả mũi tên chỉ đường nữa.
Sư trụ trì chùa Long Vân là Thích Thanh Tịnh, người gốc Quảng Trị, từng sống ở Huế và Sài Gòn. Sư hỏi tôi vài câu rồi nói hiện chùa đang sửa chữa chánh điện nên mấy ông thợ xây người Huế ở hết sạch phòng rồi. Tôi bảo không sao, tôi có lều, chỉ xin cắm trại trong khuôn viên chùa thôi.
Lúc ấy có một bác Việt kiều 75 tuổi đến. Sư bảo tôi hỏi bác ấy. Bác ấy cũng hỏi vài câu rồi bảo do tôi lỡ đường nên cho phép ngủ 1 đêm. Sư Thanh Tịnh lấy chiếu và mền gối cho tôi ngủ ở phía sau hè nơi có một tấm phản gỗ và dặn khi nào ngủ thì kéo cửa xuống. Nhưng tôi cắm trại ngủ ở hiên sau của chùa.
Tắm rửa giặt giũ xong, tôi lấy thức ăn ra ăn và xem ti vi cùng mọi người - đó là chương trình “Cặp đôi hoàn hảo.” Lâu rồi mới được xem chương trình tiếng Việt nên tôi hào hứng vô cùng, nhưng xem một hồi cũng chán; không hiểu sao ở Việt Nam người ta vẫn có thể xem nó hàng ngày được nhỉ?
Sáng, tôi thấy mấy ông thợ ăn bún được mang tới trong mấy cái bịch to. Tôi hỏi đường ra chợ để mua thì họ chỉ từ chùa cứ ra ngoài đường chính rồi đi thẳng hoài thì đến. Vậy mà tôi cũng hỏi đường vài người mới tìm ra, hỏi tiếng Việt luôn; thỉnh thoảng nói tiếng Lào; người Lào chỉ đường dễ tìm hơn người Việt. Tại đây, tôi ăn phở giá 10 ngàn kip và mua 5 cái bánh chiên giá 1 ngàn kip/cái.
No quá. Tôi ung dung về. Gần đến chùa, ngang qua một nhà Việt kiều. Một bác kêu tôi vào hỏi chuyện. Bác ấy thấy tôi lạ nên hỏi thăm. Tôi kể xong thì bác bảo giỏi quá và mời tôi ăn một chén cháo gạo lứt với cá lòng tong kho ớt. Cay quá nên tôi ăn rất chậm.
Sau đó tôi ôm máy tính đến nhà trọ Sabaidee. Cũng không có phòng trống. Tôi hỏi để sử dụng WiFi thì họ bảo đóng 10 ngàn kip. Trên tường có tờ thông báo là số tiền này và tiền đổi sách (đổi sách trả tiền đấy) là để xây trường tiểu học cho một ngôi làng nào đó. Sau khi tôi bỏ tiền vào thùng, họ đưa cho tờ giấy ghi mật mã truy cập. Tôi ngồi lì gần 12 tiếng để tải lên một số lượng lớn bài được viết ở dọc đường. May là tôi đã viết cả vào máy, chỉ đọc lại, tải lên blog và chèn hình vào thôi. Vậy mà mất cả một ngày mới làm xong. Tôi bỏ cả bữa ăn trưa và đến tối khi làm xong mới thấy đói nên chạy ra chợ mua 2 ngàn cơm nếp và 2 cái bánh nếp để mang về chùa ăn với chuối.
Sabaidee 2 quả là ăn nên làm ra vô cùng bởi vì có biết bao người đến hỏi phòng nhưng không có. Không khí ở đây cũng tuyệt. Đặc biệt là có nhiều du khách người Đức và Pháp lắm.
Ở chùa có một anh thợ xây trẻ tuổi, thường thức khuya để xem ti vi hơn mọi người, anh ta chắc cũng thuộc dạng “mê đi” lắm nên cứ theo hỏi tôi đã đi mấy nước mãi. Trên đời có nhiều người sinh ra với sẵn “máu du mục” nhưng do nhiều nguyên do nên không thể thực hiện cái mà lẽ ra đã thấm đẫm vào máu xương ấy nên thấy ai thực hiện được cái mà họ không thể thì “mê “ lắm. Tôi hiểu điều này bởi trước đây tôi cũng như họ. Nhưng tôi khác với họ ở chỗ đam mê của tôi mạnh hơn và tôi dám hy sinh nhiều cái để thực hiện đam mê ấy. Ngoài ra tôi còn may mắn hơn họ là tôi có điều kiện để làm điều ấy.
|
| Câu lạc bộ Hội Người Việt Nam và lớp mẫu giáo dành cho trẻ em người Việt ở xóm Phônxay, Pakse. |
Khi tôi nói với bác quản lý rằng Việt kiều ở đây nói tiếng Việt giỏi quá thì bác bảo Pakse có đông người Việt ở nhất và người Việt nói rành tiếng… Việt nhất! Bác nói có đến 7 xóm toàn người Việt không.
Một Việt kiều khác (người cho tôi chén cháo gạo lức) nói rằng trong nhà bố mẹ nói chuyện với con bằng tiếng Việt, mọi phong tục tập quán của Việt Nam vẫn giữ, vẫn đi chùa Việt (tuy nhiên bọn trẻ muốn đi chùa Lào thì chúng vẫn có thể đi, không ai phản đối cả,) vẫn ăn tết Việt Nam,… Do đó con cháu bác người nào nói tiếng Việt cũng giỏi cả.
Một thanh niên sinh năm 1984 tại Lào cho biết rằng dù anh ta sinh ra ở Lào nhưng vẫn không được công nhận là công dân Lào, anh ta vẫn có hộ chiếu Việt Nam (xin tại lãnh sự quán Việt Nam ở Pakse; nơi này gần Sabaidy 2 Guesthouse và gần chùa Long Vân). Tuy nhiên, anh ta có thể ở Lào mà không cần qua lại biên giới đóng mộc 30 ngày như những người Việt sang Lào làm ăn buôn bán.
Một trong những lý do tôi muốn đến ở chùa Long Vân là hy vọng có thể ăn một bữa cơm đậm chất Việt với những người Việt Nam (đã lâu rồi tôi không được ăn một bữa cơm Việt nào cả). Nhưng do ngày thứ nhất tôi bận ôm máy tính ngồi viết bài ở Sabaidy 2 Guesthouse; sang ngày thứ hai thì lúc mọi người dùng cơm trưa, tôi cũng có mặt, mọi người mời ăn, nhưng tôi ngại quá. Không hiểu sao ăn cơm với người Trung Quốc, người Lào, tôi không ngại mà ăn cơm với người Việt Nam tôi lại ngại đến thế?! Các bạn không thể tưởng tượng tôi thèm ăn một bữa cơm Việt đến mức nào đâu; tuy nhiên cuối cùng tôi cũng từ chối để ra chợ ăn cho thoải mái.
Tôi thấy thái độ của mọi người không thoải mái lắm khi thấy tôi ở đó. Tôi ở chùa Lào cảm thấy dễ chịu hơn ở chùa Việt (có thể các bạn sẽ cảm thấy khác tôi) và nói chuyện với người Lào dễ chịu hơn nói chuyện với người Việt dù tôi không giỏi tiếng Lào như tiếng mẹ đẻ.
Qua sự trải nghiệm này, tôi thấy rằng, có thể thấy ngôn ngữ không phải là rào cản lớn nhất trong giao tiếp mà chính thái độ của người nói và người nghe quyết định rất lớn đến hiệu quả của một cuộc nói chuyện. Khi tôi kể cho người Lào nghe về hành trình của tôi thì họ tin, còn người Việt thì không. Điều đó cho thấy người Việt luôn sống không thật với nhau nên họ không tin nhau. Điều đó làm tôi thấy khó chịu và không thích nói chuyện với họ bởi tôi quen sống thật như người Lào rồi.
Chỉ ở chùa Long Vân hai đêm, tôi chia tay ra đi vào buổi trưa, sau khi từ chối ăn cơm với mọi người, cơ hội cuối cùng cho tôi có được một bữa cơm Việt mà tôi đang thèm khát muốn chết đấy. Tôi ra chợ ăn một tô bánh canh thịt gà 10 ngàn kip, mua 2 ngàn cơm nếp rồi lần ra quốc lộ 13. Tôi đạp xe ngang qua vài khu xóm Việt Nam (ghi toàn tiếng Việt nên chắc phải là xóm Việt rồi còn gì).
Ở quốc lộ 13, tôi lại vào Chợ Mới Pakse. Ban ngày, chợ này mới thật sự sầm uất và quy mô. Thức ăn trong chợ cũng khá rẻ. Tôi mua 5 ngàn bánh mì, 2 ngàn khoai lang, thêm chai nước suối một lít rưỡi, giá 5 ngàn kip. Vậy là đủ thức ăn nước uống cho một hành trình giữa trưa nắng gay gắt.
Tôi đạp xe dọc theo quốc lộ 13 để đi đến Siphandon cũng là đường về biên giới Lào - Campuchia.
Si Phan Don - 4.000 đảo ở Champasak
|
|
|
|
| Cảnh chiều êm ả bên dòng sông Mê Kông. |
(TBKTSG Online) - Đoạn quốc lộ 13 đi Si Phan Don, đường lên xuống dốc, có nhiều dốc cao, tôi phải xuống xe đẩy lên dốc giữa trưa nắng. Si Phan Don (trong tiếng Lào có nghĩa là 4.000 đảo) là một khu vực nằm trong tỉnh Champasak ở miền nam Lào.
Đến con dốc cuối ngay ngã ba rẽ phải để đi Si Phan Don, tôi mệt quá nên ghé đại vào một ngôi nhà tường nằm ngay trên con dốc, nơi có hai người đàn ông đang ngồi nói chuyện. Họ cũng hỏi vài câu về chuyến đi của tôi. Tôi uống cạn hết ly nước được mời mà không cần khách sáo gì cả. Bà chủ nhà thấy vậy, lấy nguyên chai nước lớn ra và kéo thêm một cái ghế cho tôi đặt ly lên để rót uống cho thoải mái.
Đến bữa trưa, bà chủ nhà mời cả ông khách và tôi ăn nữa. Bữa ăn đạm bạc, chỉ có cơm gạo tẻ (lâu lắm tôi mới được ăn gạo tẻ), món gỏi đu đủ cay xè trộn với khô và bí ngô luộc. Tôi không khách sáo mà ngồi ngay vào ăn ngon lành. Cách đối xử của họ khác hẳn với người Việt ở Lào. Thứ nhất, người Việt không tin những gì bạn nói; thứ hai, người Việt còn lâu mới mời cơm một người lạ mặt (họ luôn cảnh giác và có vẻ mong bạn đi càng sớm càng tốt); thứ ba là dù họ có mời cơm cũng không biết được đó là mời thiệt hay mời lơi nữa!
Hóa ra ông chủ nhà là bộ đội từng đi học ở Hà Nội, nhưng quá lâu không nói tiếng Việt (dù nơi đó vẫn thuộc Pakse và người Việt ở Pakse rất đông) nên không hiểu tiếng Việt, đặc biệt là giọng miền Nam của tôi.
Khi biết tôi nói được tiếng Hoa thì họ mời tôi ở lại nhà họ ngay. Họ bảo cậu con trai 17 tuổi của họ đang học tiếng Hoa và thích có người nói chuyện lắm. Lúc ấy còn sớm, mới 2 giờ rưỡi, tôi chia tay lấy xe ra đi thì họ dặn tối về lại nhà họ mà ngủ. Họ thực sự muốn tôi ở đó một đêm nhưng tôi phải lên đường rồi. Trước khi rẽ vào ngã ba đi Si Phan Don, tôi mua một quả dưa hấu giá 5 ngàn kip (bây giờ là mùa dưa hấu nên thấy bán ở khắp nơi, nhưng cũng có nơi bán giá vẫn đắt).
Đường lại lên xuống dốc. Đến cây số 30 thì có mũi tên chỉ đường rẽ vào Wat Phou (một ngôi chùa có kiến trúc Khmer khá nổi tiếng ở Pakse). Ngôi chùa này cách quốc lộ khoảng 17 cây số. Tôi phân vân một tí rồi quyết định rẽ vào chùa.
Đường đi tráng nhựa khá đẹp, hai bên hoặc là đồng ruộng, đồng cỏ hoặc rừng. Không khí khá trong lành. Có ít xe cộ qua lại. Chạy khoảng 5 cây số thì đến một ngôi làng trên bờ sông Mê Kông. Từ đây, muốn đi Wat Phou phải mua vé đi đò giá 10 ngàn kip. Bên sông là mấy nhà hàng nổi đèn xanh đỏ nhấp nháy.
Tôi thấy một ngôi chùa thật to nhưng có ý muốn ngủ cạnh bờ sông nên chạy thẳng thì đến ngõ cụt. Tôi vào nhà dân gần ngõ cụt nhất xin họ cắm trại ở sau lưng nhà, nơi họ trồng bắp. Họ phân vân mãi rồi bảo tôi đi tìm phó bản; nếu ông ta đồng ý thì quay lại ngủ.
Ông phó bản đang chơi ném bi sắt nên bảo tôi rằng nếu chỉ có một người thì vào chùa ở cho an toàn. Ông này nói được tiếng Việt. Tôi khăng khăng đòi ngủ gần sông Mê Kông. Mấy người dân cũng thuyết phục tôi ngủ trong chùa. Họ bảo có thể xuống sông tắm xong thì vào chùa mà ngủ. Tôi vẫn không chịu.
Cuối cùng ông phó bản dẫn tôi vào ngôi nhà ngay cạnh đó và hỏi tôi muốn ngủ ở đâu. Tôi chỉ ra mé sau nhà. Ông ta bảo nơi ấy không sạch. Tôi nói tôi có đồ trải lót nên không sao. Vậy là ông ta đồng ý. Chủ nhà lại bảo tôi lên trên nhà sàn mà ngủ. Tôi lại không chịu mà bảo muốn ngắm mặt trời mọc vào sáng hôm sau.
Sau khi sắp xếp xong thì trời tối hẳn. Mọi người đã lên nhà ăn cơm. Tôi mò xuống sông Mê Kông để tắm nhưng trời tối, đường xuống trơn trợt nên cuối cùng tôi chỉ rửa mặt rồi lại leo lên rồi lấy thức ăn và cơm mang theo lên nhà sàn nơi mọi người xem ti vi để ăn cho sáng sủa. Chị chủ nhà mới 38 tuổi mà có đến 7 con. Nghe mà hết hồn luôn!
Tối hôm ấy trời mưa. Tôi lo đồ đạc bị ướt nên lại phải thức dậy chạy ra chạy vào cất đồ. Chưa hết! Mới sáng sớm tinh mơ mà có mấy con vịt và ngan đến “đuổi” tôi đi. Lý do là trại của tôi gần chỗ bọn chúng ăn. Chúng cạ cạ vào cái lều của tôi mãi nên tôi đành thức dậy.
Dù trời mưa nhưng lúc hừng đông vẫn thấy mặt trời mọc. Tuy nhiên nơi tôi ở lại bị mấy cái hàng rào của ruộng ngô che khuất nên chỉ thấy mà khó chụp hình được. Chỗ mà tôi dự định ở đầu tiên lại lý tưởng hơn nhiều nhưng đến sáng khi phát hiện ra điều đó thì đã muộn mất rồi. Một lúc sau trời lại đổ mưa nên mặt trời mất tiêu luôn. Vậy là mất toi công chịu lạnh nằm ngủ gần sông rồi.
Tôi lấy quả dưa hấu ra xẻ và ăn nửa quả với cơm. Cơm của tôi để từ hôm qua nên lạnh ngắt, họ bảo tôi đổ cơm ấy ra và lấy cơm mới nấu còn nóng hổi bới vào thố cho tôi ăn. Nửa quả dưa còn lại tôi tặng cho họ. Một lúc sau họ mới ăn cơm.
Tôi biết cách nấu món ăn Lào rồi. Họ kho cá (thực ra là luộc cá với gia vị), sau đó đâm nhuyễn ớt tỏi hành ngò và đổ xoong cá vào thứ gia vị cay xè này, rồi trộn lên. Họ ăn cùng với cơm, vo cơm lại và chấm với cá này mà ăn, cùng với lá xoài non hái ngoài vườn hoặc cải muối. Cách ăn và cách nấu của dân Lào đơn giản vô cùng. Quả là khi đi bụi tôi học được vô số điều tưởng phức tạp nhưng lại vô cùng đơn giản, nếu biết cách!
Tôi còn mua ở một người bán hàng dạo hai khúc cơm lam (cơm nếp với dừa nạo, ăn ngán muốn chết) giá 5 ngàn kip/2 khúc. Khi chạy xe ra đến ngôi chùa của làng thì tôi thấy hai “cua rơ” người Pháp (tôi đoán thế bởi vì họ nói tiếng Anh... dở quá). Họ bảo Wat Phou còn lại tàn tích giống Angko Wat nhưng nhỏ hơn nhiều (dĩ nhiên rồi).
Qua sông, người 10 ngàn kip, xe đạp 10 ngàn kip (người địa phương bảo tôi rằng xe đạp chỉ có 5 ngàn kip thôi). Sau này tôi còn biết vé vào cổng là 30 ngàn kip nữa. Hai người Pháp ấy bảo từ bờ sông kia, họ muốn đi thẳng đến đảo Dong Done (thuộc cụm đảo Khong, 4 ngàn đảo) nhưng sáng trời mưa mà không có đường tráng nhựa chỉ có đường đất đỏ thôi. Đường đất đỏ mà ướt thì chạy xe đạp vừa dơ vừa chậm nên họ đổi ý quay lại bên này đi theo quốc lộ 13.
|
| Bảng chỉ dẫn vào chùa Tomo. |
Tôi bỏ qua Wat Phou và đi thẳng hướng Si Phan Don đến cây số 40 thì thấy bảng chỉ dẫn vào chùa Tomo (Monument World Heritage) chỉ cách đường lộ có 4 cây nhưng đường đất đỏ. Phân vân một hồi rồi tôi cũng vào.
Bên ngoài là một thảm cỏ xanh mướt. Sau đó là rừng, theo đúng nghĩa bởi vì cây to còn nhiều lắm. Ngôi chùa này cũng chỉ còn tàn tích mà thôi. Lòng vòng chụp hình một hồi rồi tôi quay trở ra. Lúc ấy xuất hiện một người đến xé vé và bắt tôi mua. Giá vé là 10 ngàn kip.
Ông ta sau đó trở thành hướng dẫn viên cho tôi luôn. Ông ta dắt tôi đi đến những nơi có thể chụp hình và giải thích bằng tiếng …Lào. Sau đó ông ta còn dẫn tôi đến nơi mà ngày xưa những người sống trong chùa này thường đến tắm.
|
| Cũng như chùa Phou, Tomo ngày nay chỉ là phế tích. |
Đây là một ngôi chùa của đạo Hindu. Chùa Tomo nằm trong làng Tomo, cạnh sông Tomo và gần với Wat Phou. Wat Phou là chùa Khmer còn Wat Tomo là chùa Hindu.
Tôi lại chạy dọc theo đường quốc lộ 13 và bà vợ của ông bộ đội ở ngã ba mà tôi được mời một bữa trưa với gỏi đu đủ đang chờ xe bên đường. Bà ta ngạc nhiên hỏi tôi gì đó. Tôi bảo ngủ ở Wat Phou một đêm. Bà ta gật đầu.
Tiếp tục đạp xe đến chiều thì tôi thấy một cảnh buồn cười lắm - mấy con trâu rủ nhau nằm vũng. Lần đầu tiên tôi thấy một vũng có đến 7 con trâu cùng nằm, thường chỉ 1-3 con thôi. Mắc cười quá nên tôi dừng lại quan sát chúng. Để tránh nóng, ngoài việc trầm mình xuống vũng bùn, thỉnh thoảng chúng nhúng luôn cả cái mặt xuống bùn, thỉnh thoảng lại lấy đầu hất nước lên trên khoảng lưng nằm trên mặt nước.
Bọn trâu cũng khôn lắm nghen; chúng không nằm một chỗ mà thỉnh thoảng lại đứng lên bỏ qua chỗ khác nằm; có khi lại nằm ngay đầu của một con trâu khác; tôi tưởng con trâu kia sẽ lấy sừng húc vào lưng nó cái tội nằm bậy bạ nhưng bọn trâu lại sống hòa đồng hơn cả con người nữa; chúng nhường nhịn nhau nên mọi việc êm thắm.
Đạp xe ngang một ngôi chùa đang xây cổng, có bức tường bao quanh sơn màu… hồng, tôi thấy lạ nên dừng xe và chạy vào chùa hỏi thử xem có thể ngủ lại hay không dù lúc ấy mới khoảng 4 giờ chiều. Ngay trước chính điện có hai người ngồi ở một cái bàn đá; một nhà sư và một người dân. Nhà sư chỉ vào một góc chánh điện và bảo tôi ngủ ở đó.
Sư trụ trì và một chú tiểu vào. Tôi mở mấy cái video mà tôi tải lúc còn ở Pakse ra cho họ xem, trong đó có băng video vở cải lương về cuộc đời của Phật Thích Ca do nghệ sĩ Trọng Phúc thủ vai. Có rất nhiều cảnh quay khá là đẹp nên họ ngồi chăm chú xem. Điều mà tôi thích nhất ở vị sư trụ trì này là khi mấy đứa trẻ bảo rằng tôi là “fa rằng” (người nước ngoài) thì sư bảo, “người Việt, không phải fa rằng”.
Sáng, tôi thu dọn xong thì ăn một bữa cơm thật no với một bà mẹ. Mẹ còn bảo một cô gái lấy cơm nếp ra cho tôi mang theo. Chia tay mọi người ở ngôi chùa có bức tường màu hồng, tôi lại đạp xe dọc theo quốc lộ 13. Cảnh lại giống nhau ngoại trừ khi gần đến Siphandon thì có một cánh đồng với rất nhiều ổ mối rất lớn.
|
| Những ổ đất mối xông thành đụn cao như cây cột nằm dọc cánh đồng gần Si Phan Don. |
Tôi ghé vào một nhà dân núp nắng thì gặp một người Nghệ An chạy xe máy bán hàng. Lúc đầu anh ta cứ bảo rằng mình là người Lào sang học ở Việt Nam. Anh ta mặc áo trắng đóng thùng, đội nón bộ đội cụ Hồ, mang cặp táp nên nhìn chả khác nào cán bộ đi công tác cả. Anh ta bảo thuê nhà ở trên đảo Khong ở Si Phan Don. Anh ta cho tôi biết là ngày 02-12 ở trên đảo có tổ chức hội đua thuyền, tiếng Lào gọi là Bun Song Hưa.
Anh chàng này còn cho tôi biết rằng người Lào thích mua chịu (thiếu nợ) lắm nên thường bán hàng cho họ xong rồi cả năm sau mới lấy tiền được. Có người khi có tiền trả thì nghe tiếng xe từ xa đã ra đón để trả, có người thì thấy từ xa đã bỏ chạy trốn mất.
Khi tôi hỏi về hải quan ở biên giới Lào - Campuchia. Anh ta bảo tháng nào cũng phải đi đóng mộc. Mỗi lần như thế thì nộp cho phía Lào 20 ngàn kip cho cả đi lẫn về; hải quan Campuchia thu cả đi lẫn về là 10 đô Mỹ. Anh ta nói đó là lệ phí đóng mộc. Tôi bảo lệ phí thì có biên nhận dù là 1 ngàn đồng, còn chỉ thu tiền mà không viết biên nhận gì cả thì là ăn tiền hối lộ. Tôi nói anh ta, lần sau sang trước khi đóng tiền thì bảo họ ghi biên nhận. Anh ta bảo làm thế họ không đóng mộc. Tôi nghĩ trong bụng, nếu thế tôi căng lều lên ngủ tại đó luôn thử xem sao.
Gặp hai sư nữ ở Si Phan Don
|
|
|
|
| Cổng vào một ngôi chùa ở Si Phan Don, trên đỉnh đồi xa xa có một ngôi tượng Phật lớn. |
(TBKTSG Online) - Tôi đạp xe ngang qua một ngôi chùa có một pho tượng màu vàng trên đỉnh đồi; pho tượng nhìn xuống sông Mê Kông trông thật đẹp. Đã đạp xe qua khỏi, tôi quay trở lại, chạy vào để chụp hình thì thấy hai bên là hai cái nhà nhỏ không có vách tường, được xây kiên cố bằng gạch cho khách nghỉ ngơi.
Tôi đi vào trong để chụp hình cho rõ thì thấy phía trong có một cái gần nhà của ni sư (tôi gọi mà không thấy ai cả; ngoài sân thì phơi toàn đồ trắng chứ không thấy màu cam đâu cả nên tôi đoán đây là chùa của ni sư - ni sư ở Lào mặc toàn trắng). Thế là tôi ngồi chờ họ về để xin phép cắm lều.
|
| Ngôi nhà xây, nơi tôi dựng lều ngủ. |
Một chiếc xe 7 chỗ chở du khách vào; có vài người xuống chụp ảnh; họ hỏi tôi gì đó; tôi nói: “bow hu” (không biết). Chờ mãi, trời tối dần mà vẫn không thấy ai nên tôi lấy lều ra cắm. Trong lúc lúi cúi thì nghe tiếng nói vọng ra từ ngôi nhà sàn. Tôi chạy đến xin cắm trại thì hai ni sư bảo được. Họ bảo tôi vào nhà tắm của họ mà tắm.
Thật là ở chung với hai ni sư này dễ chịu vô cùng. Họ thật đúng là Lào, hiếu khách vô cùng. Tôi tắm giặt đồ, rồi lấy thức ăn lên chỗ họ ăn. Họ lấy đủ món ra mời tôi ăn. Hình như họ quý tôi lắm, luôn miệng bảo sáng mai đến ăn cơm cùng họ xong rồi hãy đi. Tôi lấy bản đồ và lấy máy tính ra cho họ xem ảnh. Hơn 8 giờ tối, tôi chia tay họ để đi ngủ.
|
| Bình minh trên sông Mê Kông. |
Tôi thích hai ni sư này và thích không khí nơi ấy vô cùng. Xa khu dân cư, thanh tịnh, trong lành (nằm trên đồi có nhiều cây cối bao phủ), xung quanh nơi họ ở trồng hoa tươi. Tôi thích họ và nơi ấy vô cùng. Nếu tôi biết tiếng Lào nhiều hơn thì chắc ở đó tu chung họ luôn rồi. Nguyên nơi ấy chỉ có hai ni sư thôi. Hai ni sư tên là Tọi và Lasumy.
Sáng tôi thấy vài nhà sư đi từ trên đồi xuống để khuất thực. Tôi hỏi hai ni sư thì họ bảo gần pho tượng Phật lớn có sư ở. Thì ra thế! Nhưng họ ở cách nhau khá xa.
Họ không đi khất thực mà buổi sáng nấu cơm; họ nấu riêng hai loại cơm gạo nếp và cơm gạo tẻ (gạo tẻ là cho tôi ăn). Lasumy nấu cả thức ăn Việt Nam, đó là cá kho măng. Tôi không được ăn cơm Việt với người Việt mà ăn món Việt với người Lào.
|
| Ni sư Lasumy bên tượng con gà, tượng trưng cho một vị thần nào đó của người Lào. |
Càng ngày tôi càng “thấm” kiểu ăn của Lào. Họ chủ yếu là nấu cho được một rổ cơm nếp, còn ăn thì có thể lấy tỏi ớt đâm nhuyễn rồi cuộn với cơm mà ăn. Nếu sang hơn một chút thì có thêm món gà nướng que. Nếu không thì chỉ cơm với muối cũng thành bữa.
Hai ni cô bảo tôi đem ba lô vào nhà họ gửi; họ khóa cửa lại rồi dắt tôi lên chỗ tượng Phật. Cô Tọi thì đi vác mấy thanh gỗ to và dài. Cô Lasumy thì dẫn tôi đi giới thiệu về mấy pho tượng (thực tình tôi chẳng hiểu gì mấy). Mấy pho tượng có hình con gà là vị thần gì đó của họ; mỗi con gà có một tư thế khác nhau tượng trưng cho một vị thần khác nhau.
Cô ấy dẫn tôi vào một căn phòng rồi tụng kinh, tôi ngồi nghe và bắt chước cô ấy lạy. Cô ấy lấy hình của sư trụ trì ra cho tôi xem, sư đã 100 tuổi rồi mà tai mắt vẫn còn thính, đọc sách và viết không cần mang kiếng. Sau đó cô dẫn tôi đi gặp sư trụ trì; giữa đường thì gặp một nhà sư đi xuống, cô ấy bước ra khỏi lối đi và chắp hai tay lại hỏi sư trụ trì ở đâu. Sư không có mặt ở đấy. Vậy là cô ấy dẫn tôi đi trở xuống.
Đi lòng vòng lên xuống đồi, tôi mệt quá nên nằm ra ngủ cùng con mèo có tên là Đăm (tiếng Lào nghĩa là Đen, do con mèo 5 tuổi lông toàn màu đen). Một vị sư vào và đưa bình bát cho cô lấy thức ăn bên trong ra. Cô lấy ra nào tiền loại giấy 500 và 1 ngàn, nào là cơm nếp, nào là bánh kẹo, nào là trái cây. Cô lấy một ít bánh và vài quả chuối cho vào bọc ny lông đưa cho tôi. Vị sư này tu ở chùa gần đó và là bố của cô Tọi. Ông ta đến thăm con gái, giúp họ sửa chữa vài thứ và chỉ họ cách ép mè để lấy dầu. Tôi thu dọn đồ dạc xong thì ở lại đó xem họ ép dầu. Lần đầu tiên tôi được thấy cảnh ấy.
Có người đem hai bịch bánh canh thật to vào cúng dường. Cô Lasumy gọi hai mẹ con một người vừa cúng dường thức ăn từ trên đồi xuống để đưa thức ăn cho họ. Các sư có khá nhiều thức ăn, ăn không hết thì họ đem cho lại bớt những người cúng dường khác.
Hai ni cô này khá là sạch sẽ. Họ không cho thức ăn thừa trở lại vào nồi để hâm mà đổ cả cho chó ăn. Tóm lại dù sao cũng là phụ nữ nên dĩ nhiên phải sạch sẽ và ngăn nắp hơn nam giới rồi. Khoảng hơn 10 giờ, tôi chia tay họ và đạp xe theo đường quốc lộ 13. Gần như đối diện ngôi chùa này là chùa của bố cô Tọi.
|
| Chiếc "phà" đưa khách và xe máy qua sông được ghép thành từ hai chiếc thuyền gỗ nhỏ. |
Tôi thấy bảng chỉ dẫn ra bến phà. Phà cho người cách đó khoảng 800 mét; phà cho xe cách đó 4 cây số (phải chạy tiếp trên đường quốc lộ 13 thêm vài cây nữa). Tôi rẽ vào phà cho khách bộ hành. Chiếc phà mà họ dùng để chở xe máy trông thật ngộ, đó là hai chiếc thuyền ghép lại và có một mảnh gỗ to bắc ngang qua.
Tôi hỏi giá thì họ gọi một thanh niên xuống cho giá dành cho du khách là 30 ngàn kip. Tôi cảm ơn và chạy thẳng sang phà dành cho xe cộ nhưng tôi chạy theo lối nhỏ xuyên qua các bản dọc sông Mê Kông chứ không ra quốc lộ 13.
Tôi ghé vào một ngôi chùa, gặp hai nhà sư. Khi tôi hỏi về hội đua thuyền thì họ cho biết sẽ diễn ra vào ngày 2/12 và từ bờ bên kia (nghĩa là phải qua đảo) thì xem được rõ hơn. Đi tiếp một đoạn thì đến bến phà. Tôi leo lên một chiếc phà nhỏ loại hai chiếc thuyền ghép lại (lúc ấy tôi là hành khách duy nhất); khi đến bờ thì tôi móc túi ra tờ 5 ngàn kip đưa. Đưa tiền xong, tôi đẩy xe ra đi thì nghe tiếng họ nói: “ha phan” (không hiểu như vậy là nhiều hay ít nữa?).
|
| Một đoạn đường làng rợp bóng tre xanh mát dọc theo bờ sông Mê Kông. |
Đạp xe dọc theo đường chính mmootj đoạn, tôi rẽ vào một con đường nhỏ rợp bóng tre dọc theo bờ sông Mê Kông. Đi một hồi thì đến khu vực có bệnh viện, nhà trọ, nhà hàng và cái chợ nhỏ. Ở chợ này, giá dưa hấu khá đắt, 12 ngàn một quả loại tôi thường mua chỉ 5 ngàn kip thôi. Đạp xe đi thẳng hoài thì thấy một ngôi chùa. Dọc sông là bãi cỏ, vậy là tôi có nơi cắm trại ngay bên dòng Mê Kông, có lối xuống sông tắm, bờ sông không trơn trợt. Vậy là quá lý tưởng! Tôi làm một vòng ra chợ mua thức ăn rồi quay về đó dựng trại ngủ luôn.
Buổi sáng, tôi dậy và thu xếp. Tôi vào chùa nhờ chú tiểu đem lên nhà sạc pin máy vi tính giúp tôi. Gội đầu xong, tôi lấy xe đạp chạy ra chợ thì thấy vài người dân xách thức ăn đi ra từ một con đường. Tôi hỏi họ thì họ bảo chợ ở phía ấy. Đó là một cái chợ địa phương. Tôi ăn một tô khợp bun, một tô bánh canh và mua theo rất nhiều thức ăn cho bữa trưa và chiều.
Tôi chạy một vòng. Hôm nay là ngày lễ gì đó mà họ có mít tinh và không cho tôi vào (sau này tôi mới biết hôm đó là ngày quốc khánh của Lào). Hỏi mấy giờ có đua ghe, họ bảo ngày mai - tức là ngày 3/12; nghĩa là tôi phải ngủ thêm một đêm nữa trên đảo để chờ! Đi lòng vòng riết thấy chán, tôi quay về chùa. Trên đường về ghé vào “giường hàng” - ngồi bày hàng trên giường để bán - của một bà mẹ bán món giò khạo (giống gỏi cuốn của Việt Nam), giá 1 ngàn kip/cái. Tôi ăn luôn 5 cái. Hình như buổi sáng tôi ăn hoài không no hay sao á? Vừa ăn một tô bún và một tô bánh canh, vậy mà ăn tiếp 5 cái gỏi cuốn, tôi vẫn ăn … nhẹ nhàng nữa chứ.
|
| Đoạn sông Mê Kông sẽ diễn ra cuộc đua ghe ngo. |
Trở về chùa, tôi vào chính điện ngồi gõ bài. Một du khách Đức vào, tôi bắt chuyện với ông ta và bắt mối cho chú tiểu nói (chú ta muốn nói lắm nhưng ngại). Trước khi chia tay, ông ta lấy ra 10 ngàn kip tặng cho chú tiểu. Còn tôi cặm cụi ngồi gõ bàn phím.
Vài đội thuyền từ các địa phương khác đến nghỉ ngơi tại chùa này. Vậy là tôi được xem họ chuẩn bị cho cuộc đua ghe ngo vào ngày hôm sau. Đi bụi qua Lào như tôi sướng quá, vừa không tốn tiền nhà trọ vừa được xem người dân chuẩn bị cho lễ hội ở trong chùa này nữa. Các đội thuyền lần lượt đến cùng với tiếng trống tùm tum, vui ơi là vui. Không ngờ ngôi chùa này lại là một trong những nơi tập trung của các đội thuyền tham gia cuộc đua ghe ngo lớn này.
Ngủ hai đêm ở Moung Khong, trên đảo Si Phan Don để chờ xem hội đua ghe ngo xong, tôi lại quay về chùa Phu Khau Keo nơi có hai ni sư Tọi và Lasumy. Khi tôi đến thì cô Lasumy đang chặt cá trê ra nhiều khúc, sau đó thì nêm gia vị hành ngò tỏi ớt, rồi chia thành 3 phần cho vào lá chuối, gói lại, sau đó cho vào nồi (loại nồi để nấu “khâu nieo” - cơm nếp) hấp. Đó là món “móc ba” của Lào.
Buổi tối, tôi lấy tiền các nước ra tặng cho họ; họ vui vô cùng. Ngoài ra tôi còn tặng cho cô Lasumy hình Đức Phật mà tôi được tặng ở Ấn Độ (rất đẹp và tôi rất thích). Tôi tặng cho cô Tọi một chiếc vòng đeo tay và một cái túi đựng điện thoại mà tôi mua ở Trung Quốc.
Thời gian tôi đi bụi đủ dài để tôi thấy rằng những thứ mà tôi mang theo chỉ là phù du. Không phải do tôi “ngộ” ra điều gì cao siêu mà là vì tôi thường ngủ lều, ngoại trừ tiền và hộ chiếu tôi luôn mang theo người, mọi thứ khác cất trong ba lô có thể bị mất bất cứ lúc nào do để bên ngoài lều cùng với chiếc xe đạp. Những món nào tôi thích nhất thường lấy ra cho người khác trước vì nếu không cho đi thì khi bị mất sẽ thấy tiếc vô cùng. Vì thế, tôi quan sát người địa phương mà tôi ở chung, thấy họ có thích món gì hay thiếu món gì, tôi lấy cái tôi có ra hỏi họ thích không; nếu họ thích thì tôi tặng luôn. Làm thế vừa để trả ơn họ giúp đỡ tôi, vừa để cho hành lý nhẹ bớt, vừa để lỡ có bị “chôm” ba lô sẽ không thấy tiếc những thứ bị mất. Tóm lại là toàn là có lợi, nên tôi cứ cho hết sạch.
Tôi mở máy tính cho họ xem bộ phim “Dòng Máu Anh Hùng” của Johnny Trí Nguyễn. Họ xem say mê và gọi đó là kungfu Việt Nam.
Sáng hôm sau, cô Lasumy chiên trứng và chúng tôi ăn cơm tẻ cùng trứng chiên và món móc ba. Cô Tọi lấy cơm nếp và một gói móc ba cho tôi mang theo ăn dọc đường.
|
| Toàn cảnh Si Phan Don chụp từ trên đồi. |
Sau đó, họ lên đồi lạy Phật, tôi xin đi theo. Họ tụng kinh, lạy Phật. Cô Lasumy lấy bốn cây nhang thắp lên và đưa cho tôi, sau đó dẫn tôi ra tượng Phật lớn và dạy tôi ngồi thiền.
Khi trở lại nhà, tôi lười đi quá nên quyết định ở lại thêm một đêm. Dù sao thì hôm đó cũng mới là ngày 4/12, trong khi mộc của tôi đến ngày 6/12 mới hết hạn.
Khoảng 10 giờ rưỡi họ làm gỏi ăn với ớt tỏi trước, rồi sau đó mới ăn cơm; lúc này có thêm một phụ nữ 53 tuổi đến từ sáng sớm. Buổi trưa tôi ra vườn hái rau tập tàng để chiều nấu canh ăn. Sau đó hai cô rủ tôi đi chơi. Họ mặc đồ thật đẹp rồi dẫn tôi đến ngôi chùa gần đó. Từ trên chùa này, có thể nhìn thấy cảnh sông Mê Kông và hòn đảo Si Phan Don bên kia. Họ giải thích cho tôi ý nghĩa các bức tranh vẽ trên tường, nhưng tôi không hiểu lắm.
|
| Hai ni sư tên là Tọi (trái) và Lasumy. Ni sư Lasumy 30 tuổi, tu ở chùa này 9 năm rồi. Ni sư Tọi 27 tuổi, tu ở đây được 5 năm. |
Trở ra ngoài, tôi chụp hình cho hai ni cô. Sau đó, chúng tôi đến tiệm rửa hình. Tôi chỉ định rửa một tấm mà tôi thích nhất để tặng họ, nhưng cả hai cô đều thích nhiều tấm hình chụp cảnh na ná nhau. Cuối cùng họ rửa đến 8 tấm, ngoài 1 tấm tôi thích, còn lại chủ yếu chụp ở hai cảnh mà thôi. Tôi để họ trả tiền luôn; 5 ngàn kip/tấm; đắt quá.
Ở tiệm chụp hình, có một nhà sư đang ôm máy tính gõ gõ, tôi hỏi nhà sư có bài hát Lào không? Nhà sư bảo có và chép vào USB của tôi đến gần 200 bài hát. Ngoài ra nhà sư còn chép một số hình ảnh của Phật nữa. Tôi chọn tấm đẹp nhất làm hình nền cho desktop bởi các hình Phật mang theo tôi tặng hết cả rồi.
Khi chúng tôi về thì người phụ nữ 53 tuổi đang đào khoai lang, khoai mì lên để luộc ăn. Dân Lào coi chùa chiền là tài sản chung. Họ đến đó trồng trọt chăm sóc cây cối và có thể nấu nướng, hái lượm… tự nhiên như ở nhà. Tôi rất thích cái phong cách giản dị, mộc mạc và vô cùng tự nhiên của người Lào. Tiếc là họ đang dần dần bị lai căng, ảnh hưởng những cái không hay của các nước láng giềng nhiều quá. Chắc vài năm nữa, khi trở lại thì tôi sẽ có một đất nước Lào khác chăng?
Tôi ăn khoai luộc no cả bụng, không cần ăn cơm chiều nữa. Sáng hôm sau, người phụ nữ 53 tuổi dậy sớm nấu cơm mà cô Tọi ngâm gạo từ tối hôm trước. Hôm ấy hai cô không phải nấu nướng gì cả. Thức ăn là món sụm ba (giống như nem cá) và móc ba. Họ ăn trước. Người phụ nữ kia hấp rau mà tôi hái hôm qua lên, sau đó trộn mè rang đâm nhuyễn cùng gia vị là nước mắm, tỏi nướng được đâm nhuyễn vào. Khi nấu món gì bà ta cũng lấy chén, dĩa ra để dành cho hai cô trước rồi sau đó mới ăn.
Đua ghe ngo ở Si Phan Don
|
|
|
|
| Cuộc đua ghe ngo trên sông Mê Kông ở Si Phan Don. |
(TBKTSG Online) - Giữa trưa nắng chang chang, các đội ghe bắt đầu tập luyện cho cuộc đua vào hôm sau. Họ mặc đồng phục hẳn hoi và chèo qua chèo lại trên khúc sông trước mặt tôi. Lần lượt các đội ghe tập trung ở các địa điểm khác cũng xuất hiện trên khúc sông này. Mãi đến hôm sau tôi mới biết đây chính là điểm xuất phát của cuộc đua.
Tôi thích “mê tơi” luôn bởi ngoài thành viên các đội ghe, người dân địa phương và người Lào từ các nơi khác đến xem thì tôi là người nước ngoài duy nhất có mặt tại địa điểm này. Mấy đội ghe vừa tập luyện vừa quan sát chiến thuật của các ghe khác. Họ bàn tán xôn xao và có đội còn đua thử với nhau. Lúc đó tôi ngồi một nơi bên bờ sông và cổ vũ cho một đội ghe mặc áo đỏ mà sau này tôi mới biết đó là đội ghe của một bản cách nơi này 7 cây số.
Các tay chèo áo đỏ thấy có người cổ vũ nên càng hào hứng; họ lấy kèn sáo ra thổi inh ỏi mặc cho anh chàng trưởng đoàn bảo mọi người nghỉ ngơi trước khi lại tiếp tục bơi thuyền nhưng anh ta có nói kiểu gì thì cũng không ai dừng cả. Vui ghê luôn! Ngày diễn tập của các đội ghe vui thật là vui, có lẽ còn vui hơn cả ngày hội đua chính nữa. Họ tập luyện, họ cười giỡn, họ bình luận lẫn nhau, họ thi đua nhau, họ hát hò, họ thổi kèn, thổi sáo.
|
| Đua ghe là một môn thể thao nhưng cũng là ngày hội, cuộc vui của người dân. |
|
| Mọi người quây quần, cùng nhau đàn hát vui vẻ. |
Tôi vừa học lóm được mấy từ “giỏi lắm”, “lên đường”, “cố lên” (cái này do tôi nghe họ hô rồi đoán nghĩa, riết rồi thuộc lòng luôn). Tôi la to lên mấy từ này. Tôi cứ dạo qua, dạo lại mấy đội ghe, lúc thì xin nước uống, lúc thì “tám,” lúc thì nghe họ hát hò, lúc thì chỉ để nhìn họ… thay quần áo! Ngày hôm ấy đúng là một ngày hội của họ và của tôi.
Đến chiều, tôi ngồi trên bờ sông nghỉ ngơi và suy nghĩ xem cắm trại ở đâu. Nơi tôi cắm trại trước đây thì ra đó là nơi người địa phương căng bạt để làm quán bán hàng. Mới chỉ có một quán bán thôi nhưng mọi người ngồi đó nhậu, chẳng lẽ tôi căng lều ngủ cạnh bên. Tôi không sợ không an toàn mà chỉ sợ họ làm ồn không ngủ được.
Mấy tay đua tập xong lên ngồi cạnh tôi và hỏi chuyện. Họ hỏi tôi có chồng chưa. Tôi nói rồi, 3 người, một Việt, một Thái, một Trung Quốc. Họ bảo thêm một ông chồng Lào cho thành bốn. Tôi bảo ba là đủ, vả lại người Lào không đẹp nên không thích.
Họ hỏi tôi ngủ ở đâu. Tôi chỉ xuống bờ sông bảo cắm trại ngủ ở đó. Họ nói không được, có 3 - 4 đội ghe ngủ rải rác trên bờ ở khu vực đó rồi. Trong chùa còn có thêm 3 đội (chắc do có đăng ký trước nên được ở chung với các chú tiểu). Họ bảo tôi vào chùa căng lều ngủ.
Cuối cùng tôi căng lều gần đội ghe mà tôi ủng hộ để ngủ. Tôi vào xin nước uống. Họ ra vào xem cái lều của tôi mãi. Ở bên phía kia, có đội ghe còn mang theo cả chú tiểu và nhà sư của bản họ nữa (chắc để cầu nguyện cho đội họ thắng).
|
| Cuộc đua chính thức chỉ diễn ra vài giờ, nhưng chính thời gian các đội cùng nhau diễn tập trước cuộc đua lại rất hào hứng, rộn ràng không khí hội hè. |
Khi tôi lần mò xuống sông tìm nơi tắm rửa thì họ bảo tôi tắm ở cuối dòng bởi đầu dòng là các ghe đua của họ đang tập hợp. Chắc họ sợ nước tắm rửa của phụ nữ làm họ bị xui chăng. May là trước đó khi dạo qua dạo lại các đội ghe, tôi không dám chạm vào bất cứ đồ nào của họ cả, từ ghe cho đến kèn trống. Mắc công họ bị thua lại đổ thừa cho tôi lắm.
Nghe nói hôm ấy 6 giờ chiều có ca nhạc nên sau khi tắm rửa và thu xếp xong, tôi ra khu hội chợ nhưng chả thấy ca nhạc đâu dù đã 7 giờ tối. Mọi người bảo tôi là 6 giờ đã có rồi mà. Hội chợ đông nghịt người. Tôi chả quan tâm bởi sau 8 tháng ở Trung Quốc thường xuyên phải ra vào mấy khu chợ đêm đông nghịt thế nên tôi không hào hứng tí nào cả.
Tôi đi về lều, mở ca nhạc Việt nghe rồi ngủ. Ngày hôm đó vui quá! Tôi thấy mình như được trở về thời học sinh, đi cắm trại cùng trường vậy đó. Vì sao?
Mọi người ra vào tấp nập, cười nói lao xao, ai cũng vui như hội; lều trại cắm ở khắp nơi (của đội ghe và của người đi dự) nên cái lều của tôi không còn kỳ lạ nữa; có người quấn mền ngủ ngoài trời nên họ đốt lửa (giống y như lửa trại) và nói chuyện râm ran cả đêm; có đội ngồi bên ánh lửa đánh trống tùm tum, thổi kèn, thổi sáo, hò hát.
Người đi hội chợ về đi qua lại tay xách nách mang… Quả là một ngày đêm vui và đáng nhớ. Chắc chắn những du khách ngủ nhà trọ khách sạn không thể có được không khí hội như tôi được; họ chỉ có thể hưởng không khí hội từ hội chợ mà thôi; không thể cùng ăn cùng ngủ với các đội ghe như tôi. Tôi là người nước ngoài duy nhất dạo qua dạo lại các đội ghe và được họ xem như người nhà.
Khởi động
|
| Trước cuộc đua chính thức, các ghe đều cúng bái như một nghi thức theo truyền thống. |
Dù không khí náo nhiệt và hồi hộp chờ cuộc đua của ngày hôm sau nhưng tôi vẫn đánh một giấc ngon lành. Mới có 4 giờ sáng mà mọi người đã lục tục dậy. Tôi nướng đến 5 giờ mới dậy thu xếp mọi thứ. Khi xuống sông rửa mặt thì tôi thấy một đội thuyền đang cúng thuyền.
Họ ra dấu bảo tôi đừng chạm vào ghe (chắc họ sợ nữ giới mà chạm vào thì họ xui xẻo). Tôi nói đùa: “Không chạm ghe nhưng chạm vào người được không?”. Họ bảo dĩ nhiên rồi và cười hô hố trước câu nói đùa của tôi.
Đến 6 giờ sáng, tôi tranh thủ ra chợ ăn cho thật no và mua nhiều thức ăn ăn cả ngày. Tôi cũng háo hức chờ xem hội như ai đấy chứ. Tôi loanh quanh các đội ghe và “tám” chuyện với họ. Đội ghe mà tôi ủng hộ đang cúng một cái dù với cơm nếp, thịt gà. Tôi thấy có mấy người lớn tuổi trong đội (chắc chức sắc của bản) săn soi mấy cái xương mỏ gà mãi, chắc họ đang cố đọc điềm lành dữ cho đội của họ. Tôi thấy họ lắc đầu, chắc là điềm không may rồi.
Đến 8 giờ, các đội thuyền lại nai nịt gọn ghẽ và tiếp tục tập dợt. Có hai loại ghe, loại lớn và loại nhỏ. Loại nhỏ thường có từ 10-12 tay đua; thường có một ngồi ngồi cuối thuyền, xa hơn các tay khác một tí, chắc là để định hướng đi của thuyền, các tay đua ngồi xen kẽ nhau, nghĩa là người chèo bên trái, người chèo bên phải. Loại lớn có hơn 30 tay đua. Thường thuyền dài hơn và to hơn ở bề ngang. Ở hai đầu có 3 - 4 tay đua ngồi thành một hàng. Ở đoạn giữa, các tay đua ngồi xen kẽ.
|
| Mũi ghe này nhọn, được phủ vải, cắm cờ. |
|
| Một kiểu dáng mũi ghe ngo. |
|
| Mái chèo có vẽ hoa văn trang trí. |
Thân ghe thì có cái được vẽ hoa văn màu sắc, có cái chỉ là thân mộc sơn đỏ. Mái chèo thì được viết chữ ngoằn ngoèo như bùa, có mái chèo được vẽ hình này nọ.
Hình dáng ghe đua cũng có nhiều dạng dù nhìn chung là có hai đầu nhọn nhọn. Nhưng có ghe hai đầu cong cong, có ghe hai đầu dẹp dẹp, dài dài. Hai đầu ghe thường phủ vải đủ màu sắc. Đầu ghe có thêm bàn thờ gồm bông hoa làm từ lá chuối và nhang, có khi cắm thêm cái dù (hoặc có người ngồi cầm dù).
Chiến thuật của các đội cũng khác nhau. Có đội thì tất cả các thành viên đều ngồi chèo. Có đội hai, ba người ở cuối ghe đứng dậy chèo. Tiếng hô của các đội cũng khác nhau. Có đội đếm nhịp luôn từ 1 đến 9, có đội chỉ đếm 1, 2, 3 (nựng, soạng, sam), nhưng nhiều đội lại chỉ đếm 6, 7, 8, 9 (họp, chệt, pệt, cau). Vì thế lúc nào cũng nghe vang lên tiếng hô “họp, chệt, pêt, cau”.
Bước vào cuộc đua
|
| Các tay chèo cúi rạp người xuống theo hiệu lệnh của đội trưởng sau một đợt diễn tập. |
Trước khi bắt đầu đua thì các ghe làm một nghi thức. Có ghe thì các tay đua gác mái chèo ngang qua và cúi người xuống, đội trưởng đập nhẹ vào ghe thì mọi người ngồi thẳng dậy hô to một tiếng và bắt đầu chèo. Có đội thì để mài chèo, thẳng đứng dưới nước và hơi cúi về trước. Sau đó cũng hô to và bắt đầu chèo. Có đội chèo xong thì làm nghi thức là lại cúi người, hô to và sau đó thì… vỗ tay để kết thúc một đợt diễn tập.
Khoảng 9 giờ thì một người đi thuyền đến bảo các đội ghe đến tập họp bốc thăm thi đấu. Tất cả các ghe cùng đi và cùng về nên không khí vui lắm.
Khi thi thì mỗi lần chỉ hai ghe hoặc 3 ghe đấu với nhau thôi. Ghe nhỏ đấu với ghe nhỏ và ghe lớn đấu với ghe lớn.
Các ghe phải ra tuốt gần giữa sông nên không được thấy rõ lắm (chả bủ với ngày hôm trước họ tập diễn gần bờ hơn) và cứ mỗi lần là hai ghe đấu với nhau nên tôi thấy.....chán. Không còn không khí vui vẻ đầy tiếng cười nói và kèn sáo của ngày hôm trước.
|
| Món "tôm khôi" của người Lào: lòng heo hầm bắp cải. |
Đấu hết buổi sáng thì xong vòng ngoài. Họ tập hợp lại nấu ăn hoặc mua thức ăn về ăn. Tôi đi xin nước uống và được một đội ghe mời ăn món súp của họ. Đó là bắp cải nấu với lòng heo.
Theo tôi nhớ thì đó là món “tôm khôi” thì phải. Chữ đầu tôi không nhớ lắm nhưng chữ sau thì ấn tượng vô cùng. Vì sao? Tôi phát âm sai, “khôi” mà tôi đọc thành “côi.” Họ cười hô hố và nói “khôi” ăn được chứ “côi” thì không được ăn. Lúc đó tôi không hiểu nên rất tự nhiên, ăn xong thì bỏ đi qua đội thuyền khác.
Ở đội thuyền này có anh chàng thấy tôi ăn gì cũng xin cả. Đến khi anh ta chỉ vào chai nước của tôi (vừa mới xin của đội ghe kia) thì tôi chỉ xuống sông và nói: “kinh nạm Khỏn” (uống nước sông Mê Kông) làm cho cả đội cười hô hố và chọc quê anh ta quá trời. Lúc ấy tôi cầm mấy quả chuối, anh ta xin, tôi đưa và nói: “kinh mặc côi” (ăn chuối); mọi người lại cười hô hố và khi có người giải thích tôi mới biết “côi” nghĩa là “cái ấy” của đàn ông.
Hèn chi mỗi khi tôi mua chuối, tôi bảo “mặc côi bao nhiêu tiền,” người bán nhìn tôi ngẩn ngơ đến khi tôi chỉ vào nải chuối thì họ… mới hiểu. Chắc trước đó, họ nghĩ: “Trời, sao cái con mụ này nói tục quá?!”. Bây giờ, nghĩ lại, tôi thấy xấu hổ quá, đặc biệt là khi người bán là đàn ông mới ớn chứ!
Trong lúc nghỉ trưa, mấy người dân bản địa đi xem đua ghe bày nhạc cụ ra đàn hát om sòm, các đội ghe cũng tham gia nhảy múa, vui ghê. Mấy tay đua mà thấy tôi là ngoắc lại để “tám” và bảo tôi chụp hình họ.
Tôi thấy ở đây, tôi là một du khách nước ngoài may mắn bởi vì có thể hòa đồng dễ dàng với các đội ghe. Lúc nghỉ trưa có vài người nước ngoài xách máy ảnh đi lòng vòng. Tôi được hưởng niềm vui từ việc hòa đồng với các đội ghe nên cũng muốn họ được hưởng niềm vui ấy, vì thế khi mới nhìn thấy họ tôi định làm “thông dịch” giữa họ với các đội ghe. Nhưng họ có thái độ không thân thiện lắm nên tôi đành… lắc đầu. Tôi biết họ cũng muốn “giao lưu” cùng các đội ghe như tôi bởi vì khi có người chào “hello” với họ thì họ quay lại chào ngay nhưng sau đó thì không biết nói gì thêm nên bỏ đi về các nhà hàng, những nơi “chán phèo” dành cho những du khách như họ. Tôi nghĩ là họ sẽ thấy cái lễ hội này vô vị.
Nghỉ ngơi buổi trưa đến khoảng gần 2 giờ thì các đội vào bán kết lại tiếp tục đua. Các đội bị loại ăn uống xong, “cuốn gói” đi mất.
Tôi bị say nắng nên phải vào chùa chợp mắt một tí, đến lúc quay ra thì cuộc thi đã kết thúc! Cây cờ cắm làm điểm xuất phát không còn, thuyền của giám khảo đi mất, bờ sông thì trống vắng mấy đội ghe. Mặc dù lúc ấy hội chợ đông nghẹt người mua vét hàng, tôi có cảm giác trống vắng đến ngẩn ngơ! Không biết đội nào chiến thắng, tôi đạp xe đi tìm nơi người ta tổ chức phát thưởng nhưng không biết nói tiếng Lào thế nào để hỏi nên đạp lòng vòng một hồi… oải quá, tôi đạp xe ra phà để qua kia sông về chùa của hai ni sư Tọi và Lasumy ngủ luôn.
Bến phà đông nghẹt xe máy và ô tô. Len lỏi lên phà, tôi gặp một thành viên trong một đội đua, anh ta hỏi tôi đi Pakse à. Tôi nói tôi đi về hướng Campuchia. Tôi muốn biết giá vé là bao nhiêu mà chả thấy ai đến thu tiền vé của tôi cả. Mọi người chỉ đưa vé có màu và hồng mà hầu như chả ai đưa tiền. Chắc đó là vé khứ hồi. Vậy là tôi qua phà miễn phí.
Qua biên giới Lào - Campuchia
|
|
|
|
| Khone Pha Pheng, thác nước lớn nhất Đông Nam Á. |
(TBKTSG Online) - Rời Si Phan Don, tôi đạp xe về hướng biên giới Lào - Campuchia. Dọc đường có mấy bảng hướng dẫn lối vào bến phà để đi bản Nakasang, đảo Don Det, Don Khone, thác Somphamit, thác Li Phi và điểm xem cá heo biểu diễn Irrawaddy. Một người đạp xe đi ngược chiều cho tôi biết rằng từ biên giới đến thị trấn Stung Streng của tỉnh Stung Treng, Campuchia là khoảng 60 cây số; dọc đường chỉ có các bản làng nho nhỏ mà thôi.
Khone Pha Pheng - hòn ngọc trên dòng Mê Kông
Còn khoảng 10 cây số nữa đến biên giới thì tôi thấy bảng chỉ đường vào thác Khone Pha Pheng, thác nước lớn nhất Đông Nam Á với bề rộng một cây số, chỉ cách đường quốc lộ 2 cây nên tôi đi vào.
|
| Thác Khone Pha Pheng được mệnh danh là Pearl of Mekong River. |
Vào khoảng một cây số thì thấy một thanh chắn, cạnh bên là bảng giá ghi người nước ngoài 20 ngàn kip, người Lào 5 ngàn kip. Không có ai ở đó cả và thanh chắn mở sẵn nên tôi chạy thẳng và ra đến bờ sông Mê Kông.
Tôi chụp vài tấm hình cảnh sau lưng thác rồi quay ra con đường chính để đến thác. Đạp xe một đoạn thì gặp một tấm bảng đặt giữa đường, tôi rẽ vào con đường mòn đi vào rừng. Tại đây, tôi dựng xe và lần mò đi chụp hình. Tôi mò xuống sông và lại chụp hình thác từ sau lưng. Thác đẹp và lớn thật.
Tôi tranh thủ quay phim và chụp thật nhiều hình ảnh con thác hùng vĩ này, vốn được mệnh danh là Pearl of Mekong River. Lúc đầu tôi đưa máy hình nhờ mấy du khách Mỹ chụp giúp tôi vài tấm hình lưu niệm, nhưng họ chụp xấu quá nên tôi tìm một góc đặt máy lý tưởng để chụp tự động cho mình. Mải mê đến lúc mọi người đi ra hết chỉ còn lại mình tôi với thác nước đang đổ ầm ĩ sau lưng.
Khi đi ra, tôi thấy mấy người Mỹ mặc quần tà lỏn có vẻ như chuẩn bị tắm. Tôi đùa bọn họ: Mấy anh định tắm hay tự tử vậy? Họ bảo là tắm. Một anh chàng khác (không thuộc nhóm này) bảo đó không phải là một ý kiến hay bởi vì nước chảy khá mạnh.
Tôi ra khỏi rừng rồi đạp xe đến bản Veunkham, cách quốc lộ 6 cây số. Trời đã chiều nên tôi không qua biên giới mà chịu khó chạy vào bản này để ngắm sông Mê Kông. Bản này cũng khá nổi tiếng là nơi tổ chức các tour ngắm cá heo trên sông Mê Kông. Tại chỗ này, ngắm cảnh sông Mekong đẹp khủng khiếp. Tôi muốn cắm trại ngủ luôn ở đó nhưng mọi người đều bảo không được bởi nơi này gần biên giới Campuchia nên không an toàn. Ghét quá, tôi bảo không cho ngủ thì tôi sẽ thức, ngồi cạnh sông ngắm cảnh đến sáng.
Thấy đói bụng, tôi định đi tìm cơm nếp ăn chung với món móc ba mà sư cô cho tôi. Vừa bước ra tôi gặp hai người chạy xe máy vào. Họ nói gì đó, ý là bảo tôi phải đi đến chỗ nào đó để ngủ chứ không đươc ngủ cạnh sông. Tôi bảo không cho ngủ thì tôi không ngủ. Họ bảo không được. Tôi đoán họ bảo tôi về đồn công an ngủ. Cuối cùng tôi lấy xe đi theo họ.
Đó là một ngôi nhà sàn, trong phòng có hai dãy giường, mỗi dãy 5 cái, là nơi nghỉ của nhân viên hải quan Lào. Một anh chàng chạy xe máy đến. Anh ta quê ở Pakse và có bạn là người Việt nên anh ta nói được tiếng Việt. Họ xem hộ chiếu của tôi và bảo tôi ra phía sau hàng hiên dựng lều ngủ. Lúc ăn cơm, họ cũng rủ tôi ăn chung. Đây là đêm cuối cùng của tôi trong hành trình đạp xe hàng ngàn cây số đi bụi xuyên qua đất nước Triệu Voi.
Chơi bài “lì” ở cửa khẩu
|
| Bình minh trên sông Mê Kông. |
Hôm sau, tôi dậy rất sớm và ra bờ sông ngồi chờ mặt trời lên để chụp hình. Nhưng xui là mặt trời lại mọc ở phía khác, bị khuất cây cối nên tôi đành tự chụp cho mình những tấm ảnh cùng với con sông Mê Kông.
Khi tôi về đến nơi thì mọi người đã dậy cả. Tôi thu dọn mọi thứ và nấu mì ăn sáng.
Chia tay mọi người, tôi đạp xe một cách chậm rãi về phía biên giới. Tôi được chỉ vào nơi làm thủ tục. Tại đây, cánh cửa sổ nhỏ xíu. Anh chàng hải quan ngồi làm gì đó ở một góc nên tôi phải cúi người nhìn qua cửa sổ mới thấy anh ta. Tôi nộp sổ vào. Anh ta thấy hộ chiếu Việt Nam, nói luôn: “Chạy ngân” (đóng tiền). Tôi nói các cửa khẩu khác không phải đóng tiền, tại sao ở đây lại đóng tiền (Borten, Vientiane bo mi ngân; bền nhăng dù ni mi ngân?).
Anh ta bảo nơi này đóng tiền. Tôi hỏi: “Thâu dai?” (bao nhiêu?). Anh ta bảo: “Sao pan kip”( 20 ngàn kip); sau đó xem hộ chiếu của tôi rồi bảo: “Síp ha pan kip” (15 ngàn kip).
Tôi nói: “Bo dai, lãi ngân” (không được, nhiều tiền quá!). Anh ta để hộ chiếu của tôi sang một bên và làm việc khác. Tôi ngồi lì luôn ở trên lan can.
Mấy người hải quan khác thấy tôi vào lâu quá nên đứng ở ngoài nhìn. Tôi lấy máy ảnh ra chụp hình khung cảnh hải quan này một tấm (ghi ngày giờ trên ảnh) để làm bằng chứng là tôi có mặt ở đây vào đúng ngày cuối cùng tôi được phép ở tại Lào. Và nếu họ làm “căng”, tôi sẽ hạ lều ngủ luôn và nói tôi đến đúng ngày nhưng họ không chịu đóng mộc cho tôi.
Tôi ngồi lì tại chỗ, thỉnh thoảng lại ló đầu vào và chỉ vào hộ chiếu của mình. Anh ta lại nói “chạy ngân” (đóng tiền). Tôi nói, có biên nhận mới đóng tiền, không có thì đừng hòng! Anh ta lại làm lơ. Tôi lại ngồi chờ. Cứ thế…!
Một anh chàng da trắng, cầm hộ chiếu đến. Tôi nói, nếu anh ta cần visa thì qua cửa sổ kia, cửa sổ này là để đóng mộc. Tôi nói luôn họ yêu cầu tôi trả tiền. Anh ta ngạc nhiên hỏi: “Đóng tiền để ra khỏi Lào à?”. Tôi nói phải. Tôi được miễn visa khi sang Lào thì mắc gì phải đóng tiền nên tôi từ chối đóng tiền, và họ từ chối đóng mộc. Anh chàng da trắng tự nhiên trở nên khép nép (chắc anh ta sợ bị làm khó dễ) và đặt hộ chiếu của mình lên bệ cửa sổ chứ không dám cho vào bên trong. Tôi và anh ta cùng ngồi chờ.
Lúc ấy một chiếc 7 chỗ chở một cô gái mượt mà, da trắng tóc dài đen bóng đến. Tôi thấy cô ta chìa ra hộ chiếu Việt nên hỏi chuyện bởi vì trông cô ta y hệt nhân viên sang đây làm việc. Cô ta có vẻ không muốn nói chuyện lắm.
Anh chàng hải quan từ chối đóng mộc cho tôi đi ra ngoài kêu một anh chàng hải quan trẻ tuổi hơn vào. Hai người trao đổi vài câu gì đó rồi họ đóng mộc cho tôi mà không hỏi tiền nữa. Tôi cầm sổ đi ra, không thèm cám ơn.
Ở phía Campuchia, có vài gian hàng bán thức ăn và đổi tiền nhưng họ đổi tỷ giá quá thấp; 10 ngàn kip Lào tương đương 5 ngàn riel Campuchia nhưng họ chỉ đổi có 4.500 riel thôi. Cách biên giới 60 cây số, vào chợ của thành phố Stung Streng đổi tiền có tỷ giá cao hơn: 10 ngàn kip tương đương gần 5 ngàn riel.
Gần hai tháng ở Lào và gần 10 ngày ở Thái mà số tiền 240 đô la Mỹ (tổng tiền Thái baht, tiền đổi và tiền rút từ ngân hàng tương đương chưa đến 250 đô Mỹ), tôi xài hoài không hết. Khi rời Lào, tôi vẫn còn dư 110 ngàn kip (gần 15 đô la Mỹ). Tôi chỉ đổi tại cửa khẩu 20 ngàn kip, nhận 9 ngàn riel (khoảng 50 ngàn đồng Việt Nam) cho đoạn đường 60 cây số về thành phố Stung Treng, thủ phủ một tỉnh cùng tên của Campuchia, sát biên giới Việt Nam.
Hẹn gặp lại trên đường thiên lý
|
|
|
|
| Biểu tượng và khẩu hiệu của ngành du lịch Lào. |
(TBKTSG Online) - Chuyến đạp xe xuyên Lào của tôi kéo dài gần 2 tháng (khoảng 55 ngày) cộng với 9 ngày ở Thái Lan. Mỗi lần nhập cảnh vào nước Lào không cần visa, nhưng thời hạn chỉ được 30 ngày; vì thế tôi phải xuất cảnh sang nước khác rồi trở lại Lào để có thêm 30 ngày khác, đó là lý do tôi sang Thái Lan và là cách để tôi có thể ở Lào gần 2 tháng.
Trong suốt thời gian ở Lào và Thái Lan, tôi chỉ toàn sử dụng phương tiện giao thông duy nhất là xe đạp; ngoài ra, thỉnh thoảng tôi lại xài “hăng cải” (hai cẳng) dạo lòng vòng thành phố mỗi khi ê mông quá.
Tổng chiều dài đoạn đường mà tôi đã đạp xe bắt đầu từ biên giới Lào - Trung Quốc ở phía Bắc đến biên giới Lào - Campuchia ở phía Nam bao gồm: biên giới Lào - Trung đến Vientaine khoảng 700 cây số + Vientiane đến Pakse cũng khoảng 700 cây số + Pakse đến biên giới Lào - Campuchia chừng 150 cây + khoảng 100 cây số qua lại biên giới Thái - Lào để đóng mộc (từ Vientaine đến cửa khẩu khoảng 24 cây số nhưng tôi đi tới lui đến vài lần để khảo sát, khi thấy an toàn mới qua biên giới.
|
| Chân dung tác giả (tự chụp) ở thác Khone Pha Pheng. |
Ngoài ra, tôi thường không đi thẳng một lèo đường quốc lộ từ nơi này đến nơi khác (như vậy thì chán lắm) mà trên đường đi cứ “đánh hơi” thấy ở đâu có “hoa thơm cỏ lạ”, phong cảnh hữu tình là đạp vòng vèo vào mấy ngôi làng nằm ở xa đường quốc lộ để tận hưởng không khí trong lành và môi trường sống của người dân Lào. Tổng cộng cây số của những lần tẻ ngang tẻ dọc ấy chắc cũng khoảng 200 cây số nữa.
Tóm lại, tổng chiều dài đoạn đường đạp xe xuyên Lào lần này khoảng gần 2 ngàn cây số.
Do xe đạp của tôi chỉ là loại xe bình thường, giống như xe của học sinh đến trường nên không có đồng hồ đếm cây số mà bánh xe lăn; vì vậy những con số ở trên chỉ là ước chừng thôi. Nhiều du khách gặp tôi đi đường dài với chiếc xe đạp học sinh đã trợn tròn mắt lên hỏi: làm sao chạy đường dài với chiếc xe này được? Tôi trả lời: Tôi đâu có chạy đường dài; bởi khi ngồi lên xe để di chuyển từ thành phố này sang thành phố kia, tôi cứ nghĩ là mình đang đạp xe đến... trường ấy chứ!
|
| Suốt hai tháng ở Lào, nhờ lối "ngụy trang" y như người bán hàng rong thế này mà tôi được an toàn, lúc nào cũng sẵn sàng hạ trại và có sẵn lương thực, đủ sức để đạp xe rong ruổi khắp nơi. |
Chính nhờ “ngụy trang” thế này mà tôi được an toàn đến ngày nay bởi trông tôi không giống một du khách lắm, nhìn giống người bán hàng rong hơn. Vì thế đi đâu người Lào cũng hỏi tôi: “khải nhẳng?” (bán gì?).
Việc đi xe đạp đường dài theo kiểu này giúp tôi tiết kiệm được khối tiền (cũng nhờ tôi biết nói một ít tiếng Lào nữa đấy). Vì thế gần 2 tháng ở Lào cộng thêm 9 ngày ở Thái Lan mà tổng số tiền tôi chi tiêu chưa đến 250 đô la Mỹ (ước chừng khoảng 225 đô thôi.) Đi du lịch bụi mà chi tiêu thế này thì còn rẻ hơn du lịch trong nước nữa các bạn nhỉ?!
Sau gần hai tháng ở Lào, tôi dự định chỉ đạp xe qua các tỉnh phía Bắc Campuchia với mục đích là đi về biên giới Poipet (Thái - Campuchia) nhưng rồi tôi lại ở Campuchia đến hai tháng; khác với dự tính ban đầu là chỉ ở Campuchia một tháng thôi. Thế mới là đi bụi đấy các bạn! Không bao giờ lên kế hoạch trước. Bởi vì có lên kế hoạch rồi cũng chưa chắc thực hiện đúng như vậy được.
|
| Túp lều - "khách sạn ngàn sao" đã theo tôi đi khắp nơi. Từ Trung Quốc, Mông Cổ, Lào, Campuchia, Thái Lan và còn dài dài nữa... |
Sau hai tháng ở Campuchia, tôi lại đạp xe sang Bangkok và từ đây xin visa đi được nước nào thì sẽ sang nước ấy. Vì thế tôi cũng không biết mình sẽ đi đâu sau Thái Lan. Và cũng chưa biết lúc nào thì quay về Sài Gòn nữa! Thôi, nói theo kiểu nhà Phật là... tùy duyên.
Đến đây, xin khép lại loạt bài Đi bụi, đạp xe xuyên Lào dài nhằng, chắc cũng làm nhiều bạn đọc... ngáp rồi đấy. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng, với những bạn thích đi bụi thì loạt bài này không phải vô ích hay chỉ là để đọc cho thỏa chút tò mò. Được như vậy thì tác giả cũng vô cùng sung sướng lắm lắm!
Xin hẹn gặp lại bạn đọc Thời báo Kinh tế Sài Gòn trong những bài viết khác hoặc tuyệt vời nhất là sẽ gặp nhau khi rong ruổi trên những nẻo đường thiên lý muôn phương.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét