PN - Nói tới Hàn Quốc, người ta thường nghĩ ngay tới
những thành phố du lịch nổi tiếng như Seoul, Busan, Jeju, cũng là những
địa danh xuất hiện nhiều nhất trên phim ảnh nước này. Nhưng có một thành
phố nhỏ ở miền Nam dù ít người biết tới nhưng lại được coi là cái nôi
văn hóa của Hàn Quốc, đó là Gyeongju. Gyeongju được mệnh danh là “bảo
tàng mở” với vô số di sản văn hóa lịch sử hàng ngàn năm.
Tháp Seokgatap với thiết kế đơn giản, mạnh mẽ
Từ Seoul, chúng tôi đi chuyến xe sớm nhất tới Gyeongju rồi tìm đường
tới nhà trọ Hanjin, điểm hẹn của nhiều khách ba lô quốc tế. Ân cần đón
chúng tôi từ ngoài cửa, ông Kwon, chủ nhà trọ, đã chuẩn bị sẵn một bản
đồ du lịch bằng tiếng Anh do ông tự làm, hướng dẫn rất chi tiết các địa
điểm tham quan trong thành phố và cách đi tới từng điểm. Lịch sử của cố
đô Gyeongju gắn liền với vương triều Silla được thành lập từ năm 57
trước Công nguyên đến năm 935 sau Công nguyên. Silla đánh dấu sự khởi
đầu của nền văn minh cổ đại Triều Tiên khi lần đầu tiên thống nhất được
đất nước.Với thời gian tham quan không nhiều, chúng tôi quyết định tới thăm đền Bulguksa, tuyệt tác về nghệ thuật Phật giáo của triều đại Silla. Nằm trên sườn núi Toham, đường lên đền Bulguksa đi qua các vườn anh đào và rừng phong khiến ngôi đền này không chỉ là điểm hành hương Phật giáo mà còn là cảnh đẹp nổi tiếng mỗi mùa xuân, thu. Được xây dựng từ năm 751, kiến trúc của Bulguksa rất hoành tráng. Bốn cây cầu đá dẫn lên điện thờ chính càng làm tăng vẻ uy nghi, đường bệ của đền.
Những ngôi mộ cổ dưới chân núi Namsan
Cũng giống như các ngôi đền ở Hàn Quốc, tất cả các cột và mái vòm của
điện thờ được trang trí hoa văn với hai màu xanh đỏ tượng trưng cho
trời và đất. Trong khoảng sân giữa đền, nổi bật hai ngôi tháp bằng đá
Seokgatap và Dabotap với kiến trúc tương phản, nhưng vẫn hài hòa kỳ lạ
khi đứng cạnh nhau. Trong khi tháp Dabotap được trang trí cầu kỳ, kiểu
cách thì tháp Seokgatap lại được thiết kế đơn giản, mạnh mẽ. Tương
truyền, hai ngọn tháp này là hiện thân của hai vị Phật, đồng thời cũng
tượng trưng cho sự đối lập giữa tính phức tạp của thế giới với sự khúc
chiết, tinh giản trong triết lý nhà Phật.Từ đền Bulguksa, chúng tôi lên xe buýt đi tiếp tới chân núi Namsan, ngọn núi tập trung rất nhiều di sản văn hóa Silla độc đáo. Quần thể núi Namsan có tới 180 đỉnh và 40 thung lũng, nhưng chúng tôi chỉ tập trung khám phá khu vực thung lũng Samneung. Từ dưới chân núi, chúng tôi đi ngang qua một rừng tùng cổ thụ bao quanh ba ngôi mộ cổ từ thời Silla với hình dáng như những ngọn đồi nhỏ phủ lớp cỏ úa vàng.
Hoàng hôn tĩnh lặng trên núi Namsan
Đường lên đỉnh núi gập ghềnh khúc khuỷu, nhưng chúng tôi vô cùng hào
hứng với những di sản đền chùa, tượng Phật hàng ngàn tuổi. Khi hoàng hôn
buông xuống, chúng tôi là những người khách cuối cùng leo lên đỉnh núi,
chiêm ngưỡng mặt trời từ từ khuất núi bên pho tượng Phật cổ nét mặt
hiền hòa như đang mỉm cười trong màn sương chiều tĩnh lặng.
Hạnh Liên
Khánh Châu - nhớ một bàn tay
Tôi băng qua chiều ngang bán đảo
Triều Tiên, đến Khánh Châu (đây là âm tiếng Hán của Gyeongju, thủ đô của
Triều Tiên thời Shilla - Tân La) vào một chiều mưa lạnh, ngồi ăn lẩu
nóng ở một lữ quán ven đường. Mưa ở đâu cũng buồn.
Dù đi đâu tôi cũng nhớ về khung cảnh cái chiều mưa ấy, xe lẳng lặng chạy trên freeway đồi
núi trập trùng, mọi người trong xe im lìm say ngủ, cảnh cuối thu sang
đông mưa buồn khôn tả. Tôi thích những gì khẳng khiu trơ trụi buồn bã,
như thích những cái gì sexy bốc lửa tựa mắt anh Jun Jin Moo. Đặc biệt,
thích mấy cái trạm dừng chân trên đường cao tốc của Hàn, sạch sẽ hối hả,
một chút đông đúc giữa quạnh hiu.
|
|
|
10h đêm, bên ngoài khách sạn Commodore, mưa vẫn nặng hạt.
|
Commodore nằm ở một vùng quê yên ả, xa nơi dân cư. Nghe nói trường
Kyung Hee là một nơi tuyệt đẹp, nhưng nhìn 4 phía chỉ thấy đêm đen. Tôi
mở cửa nhìn ra bao lơn ven hồ, mưa thánh thót rơi trên những chùm lá
kim, không nghe tiếng lộp độp như trên tàu lá chuối.
Từ bar vọng ra tiếng nhạc jazz uể oải. Jazz bao giờ cũng kích thích,
nhất là trong đêm mưa vắng. Cô ca sĩ mắt huyền như người digan cùng anh
trọc đầu chơi sax, một bản gì đó rất quen mà tôi không muốn nhớ. Những ngọn
đèn lồng đỏ treo cao lơ lửng bên hàng lan can đá lao ra mặt thung tĩnh
lặng. Những đèn lồng Hội An -Nhật - Tàu - Hàn... khiến tôi không hề phân
biệt được. Tôi chỉ thấy đỏ như tình yêu u ám, thấy buồn và sầu như một
nàng cung nữ, tối tối ngồi đợi xe để đi qua.
Tôi đi ngẩn ngơ ra chỗ khúc ngoặt, chợt nghe thấy những tiếng thở dài gấp gáp bên bức tường gạch xưa, như trong bài hát Pháp Je t'aime moi non plus. Khung cảnh trĩu nước, khiến tôi lại nhớ đến truyện Paustovski.
Tôi đi vào tiền sảnh vắng lặng, ngồi vào ghế, nhìn sang bar và thấy anh
đầu trọc đánh mắt cười. Trời mưa, tỉnh lạ, nhạc buồn làm tôi lại ngập
tràn ham muốn được uống một cái gì đó: cà phê, trà nóng hay rượu mạnh?.
Nhưng tôi đã không vào bar, không phải vì tiếc 10 USD mà vì muốn hưởng
thú nghe nhạc chầu rìa, dưới trời mưa lạnh. Trời lạnh nhưng lòng nóng và
thèm một bàn tay.
Tại sao tôi lại ngồi đây? Phải chăng chờ đến ngày mai đi thăm những
lăng mộ cổ Tumuli? Mình có biết những ai đã nằm trong đó đâu. Mình chưa
đọc một truyện nào của Hàn. Kiến trúc dân gian Triều Tiên mình hầu như
chẳng biết gì. Những hàng cột đá lan can như những linga. Lúc ấy, nhạc
đã chuyển sang Người yêu dấu ơi, Sayonara. Và mình cũng sắp say goodbye với xứ này khi chưa kịp quen. Càng gần đến lúc xa, càng không ngủ được.
Tôi lên phòng bó gối nhìn ra mặt hồ đêm mù mưa, chờ đến khi ánh lê minh
ửng một màu yếu ớt trên hồ. Thuốc lá Hàn rất nhẹ, như một tiếng thở
không sâu. Sáng mới thấy xung quanh hồ là núi. Ở đâu trên đất này cũng
thấy đồi núi trập trùng.
Tôi đã thức một mình suốt bao đêm mưa. Thức một mình để rồi mai chia
tay, biết đến bao giờ lại ngồi nghe mưa nơi xứ lạ suốt đêm. Mấy ngày
nay cả đoàn đã quay cuồng tham quan seminar, shopping, đằng đẵng trên
ôtô và hớn hở nhìn những tấm bảng sale off 10.000W qua cửa kính xe.
Nhưng tôi vẫn cố tìm dáng núi. Thật là tuyệt vời khi nhìn đâu cũng thấy
núi. Nhất là hôm Seoul trời nắng, từ cửa sổ khách sạn nhìn thấy ánh tà
huy rực rỡ trên đỉnh Namsan
.
Thượng Nhã
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét