Ngày bé, không rõ nhờ đâu tôi kiếm được một mớ những trang sót lại của cuốn giáo khoa lịch sử cũ, đọc thấy đoạn nói quân Nam Chiếu từ Vân Nam xuống đánh phá nước ta, trong đó có bức tranh minh hoạ vẽ Cao Biền cưỡi ngựa oai phong lẫm liệt. Những trang sách không đầu không cuối đó cùng những chuyện dân gian đã để lại trong tôi ấn tượng khó quên. Với ám ảnh đó tôi bước vào hành trình Đại Lý của một thời Vương quốc cổ Nam Chiếu.
Thành cổ Đại Lý
Con đường cao tốc xuyên sơn từ Côn Minh qua Sở Hùng đến Đại Lý dài khoảng 600km. Khởi hành sáng sớm từ Côn Minh, xế trưa chúng tôi đã đến thủ phủ châu Đại Lý, một châu tự trị dân tộc Bạch. Thành phố Đại Lý (còn gọi là Hạ Quan), nằm ở cuối giữa một bên là hồ Nhĩ Hải, một bên là dẫy Thương Sơn. Sở dĩ gọi là Hạ Quan vì ở giữa phía đầu trên của Nhĩ Hải và Thương Sơn còn có một thành phố gọi là Thượng Quan. Đây là trung tâm văn hoá, chính trị của châu, của vùng đất hội tụ ba con sông Kim Sa, sông Nộ và sông Lan Thương với những thung lũng phì nhiêu và những cánh rừng đại ngàn.
Bước xuống xe ở Đại Lý là thấy gió. Gió lộng ngổn ngang cả trời. Tôi đã nếm cái gió ở thành phố Bao Đầu (Nội Mông), miên man gió và cát. Phụ nữ đều dùng khăn che kín đầu kín mặt mỗi khi đi đường. Lạc đà nện gót bộ hành cùng với ô tô. Gió Đại Lý cũng ù ù ào ào, nhưng hiền hơn gió Bao Đầu, có lẽ vì không có gió cát. Thành cổ Đại Lý gọi tắt là Du còn gọi là Tử Thành nằm cách Hạ Quan 12km, được xây dựng vào năm 1382 (đời Minh), có chu vi 12 dặm, cao 7,5m, dầy 6m. Đại Lý có 4 cổng thành: Đông, Tây, Nam, Bắc, trên có thành lầu mái cong kiểu cách. Tuy nhiên hiện nay, chính quyền địa phương chỉ mới tu tạo lại được hai cổng thành Nam và Bắc. Có năm con phố chạy nối từ thành Nam đến thành Bắc.
Chúng tôi đã đến thăm cổng thành Nam vào một buổi sáng tháng năm, lất phất mưa. Khi xây thành này thì nước Nam Chiếu cổ đã không còn nữa. Sử Trung Quốc ghi là đô thành của nước Nam Chiếu cổ là thành Dương Thư Dương Miết (dường như vốn là bãi chăn thả dê vì nghĩa của những từ trên là dê kêu), ở phía tây thành Đại Lý cổ bây giờ. Nhưng chắc chắn vùng đất với Thương Sơn và Nhĩ Hải này phải là trung tâm kinh tế - xã hội thời kỳ đó.
Trong thành Đại Lý và xung quanh có nhiều danh thắng cổ tích. Phía nam có di chỉ thành Thái Hoà, bia Nam Chiếu Đức hoá, chùa Cảm Thông, di tích Tử thành của Đỗ Văn Tú (một thủ lãnh dân tộc Hồi cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống quân Thanh, đồng thời với cuộc khởi nghĩa Thái Bình thiên quốc) và Đại Thạch am. Phía tây thành có chùa Sùng Thánh ba tháp, chùa Hoằng Thánh một tháp, Bia Nguyên Thế Tổ bình Vân Nam. Chùa Sùng Thánh ba tháp cách cổ thành 2km, nằm dưới chân đỉnh ứng Lạc dãy Thương Sơn, được xây dựng thời Nam Chiếu. Tháp chủ Thiên Tầm, cao 69,13m gồm 16 tầng được xây dựng vào khoảng đời Đường, tương tự tháp Đại Tiểu Nhạn ở Tây An. Đáy tháp Thiên Tầm hình chữ nhật, chia làm hai tầng, tầng dưới có chu vi 33,5m , tầng trên chu vi 21m. Tầng 1 là tầng cao nhất -13,45m, cửa đông cách mặt bằng đáy tháp 2m; cửa tây cách gần 6m, tường tháp dầy 3,3m. Từ tầng 2 đến tầng 15 có cấu tạo tương tự. Tầng 16 là đỉnh tháp, cao 8m. Trên tháp có khắc bốn chữ "Vĩnh trấn sơn xuyên". Hai tháp nhỏ ở phía nam và bắc cách nhau 97,5m, cách tháp chủ 70m, cùng hình bát giác với 10 tầng, có chiều cao là 43m. Vé một người vào tham quan là 10 tệ.
Sau lời mời tha thiết của chủ cửa hàng lưu niệm, tôi ngắm nghía, chọn mua một con dao găm, vật dụng người Bạch thường mang bên mình. Vỏ và chuôi dao được bọc bằng đồng thau, chạm hình rồng và phượng, có dây đeo trang trí, gọi là dao găm Bảo Long Ngọc Phụng.
Thành Đại Lý nổi tiếng thế giới về đá. Người ta dùng loại đá hoa văn thuỷ mặc của Đại Lý để làm bình hoa, bình phong, tranh phong cảnh. Đá Đại Lý được lấy ở Thương Sơn cao hơn mực nước biển 3.000m. Thời Đường, người Bạch ở Thương Sơn đã khai thác đá hoa làm thành những đồ mĩ nghệ đẹp hiếm có.
Phía ngoài cửa Nam, bầy cơ man các chậu hoa. Nom không chán mắt. Đại Lý nổi danh với hoa mã anh, đỗ quyên, sơn trà. Nghe nói ở Vân Nam thì sơn trà Đại Lý có nhiều loại và lâu đời nhất. Hoa trà nở vào khoảng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Quí nhất là trà đồng tử diện, ba ngày đầu mới nở hoa nom yêu như mặt bé trai, sau đó nở trắng như chiếc chén ngọc, chứa 9 nhuỵ 18 cánh. Mãn khai hoa xoè to như chiếc bát, trắng như tuyết. Trà tùng tử lân cánh mỏng như lụa, mầu trắng hồng phát sáng, dịu dàng. Trà tứ bảo sắc cực sâu, tím mà cận đen, cánh có "chỉ vàng", "chỉ bạc", đúng là một thứ hoa trà hiếm có. Trà mẫu đơn, hoa cứng hơn mẫu đơn, sắc như nước thu, như phù dung khiến say lòng người… Hiện nay ở Đại Lý vẫn còn giữ được những cây sơn trà sống trên hai trăm tuổi. Trong đó, cây sơn trà già nhất Đại Lý cao 16m, đường kính 0,4m. Mỗi năm vào ngày 14/2 nông lịch, người Đại Lý thường tổ chức "Hội ngắm hoa". Dương Thăng Am đời Minh trong Chơi núi Điểm Thương có viết: Hương phong mãn đạo. phương khí sũng nhân. Dư thời như tuý nhi tỉnh, như mộng nhi giác, như cửu ngoạ nhi khởi tác. (Gió hương tràn đầy, người ngập trong khí thơm, ngỡ như say mà tỉnh, như mộng mà thực, như nằm lâu vùng trở dậy). Thế đủ biết, hội ngắm hoa vui thú thế nào.
Đến Đại Lý không thể bỏ qua nghệ thuật uống trà của người Bạch, gọi là tam đạo trà. Sau bản nhạc đón khách, các thiếu nữ Bạch trong y phục dân tộc, từng cặp bưng khay trà cung kính nâng ngang mày, chào mời tuần thứ nhất, khổ trà. Khổ trà (đắng), là thứ trà đặc sản được hái và xao nhỏ lửa, pha bằng nước Nhĩ Hải. Nghe kể, trà vừa xao vừa vò, đủ 99 lần vì thế còn gọi là công phu trà. Uống tuần khổ trà, thưởng thức vị đắng thanh mát khiến người thư thái nhẹ nhàng. Vừa thưởng trà, bạn vừa được lắng nghe các bài dân ca Bạch. Tiếp đó là tuần trà thứ hai, điềm trà (ngọt). Trà ngọt được chế biến từ sò sữa đặc sản Nhĩ Hải, sao khô tán nhỏ, thêm hạnh đào, đường phèn, mật tiễn rồi hãm bằng nước trà nóng. Lúc này, ban nhạc biểu diễn những bài tình ca, vũ công múa điệu "Bá vương tiên". Và rồi là tuần trà thứ ba, hồi vị trà. Hồi vị trà có chất liệu gồm chè tuyết xanh, bỏ thêm mật ong, hồ tiêu, sinh khương... Uống trà này bạn sẽ thấy có vị đắng mát, thơm ngọt, cay tê. Dư vị trà ngân mãi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét