(TBKTSG Online) - Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ quên được cái cảm giác
thật đặc biệt khi ngồi trên chiếc xe thổ mộ cọc cạch đi giữa những đền
tháp hoang tàn trong một buổi sáng tinh mơ, mặt trời chưa thức giấc, cả
vũ trụ dường như chỉ có tôi, con ngựa già và những đền đài trầm mặc.
Không đèn đóm, không bóng người, không tiếng máy xe, chỉ tiếng vó ngựa
lách cách trên con đường ướt đẫm sương mai và tiếng quàng quạc của bầy
quạ ăn đêm đâu đó đang gọi nhau về tổ. Trong thoáng chốc, tôi có cảm
tưởng như thời gian đã quay ngược lại hàng trăm năm, hay là tôi đã bị
lạc vào quá khứ một vùng đất từng rất huy hoàng nhưng nay chỉ còn là phế
tích: Bagan (Pagan).
Tôi chỉ mới vừa đến Bagan trên chuyến xe tốc hành xuyên đêm từ thành
phố Yangon, cách 700 km về phía nam. Cũng như mọi du khách đến Myanmar
khi đất nước này bắt đầu mở cửa, tôi háo hức đến Bagan, nơi mật độ di
tích lịch sử thuộc loại cao nhất thế giới, và thường được ví với thánh
địa Angkor của Campuchia. Xe rời Yangon lúc 6 giờ chiều hôm trước và
rạng sáng hôm sau, lúc 4 giờ, tôi đã có mặt ở bến xe thị trấn Nyang-U
gần kề khu di tích Bagan.
Theo tài liệu lịch sử, từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ XIII, Bagan là thủ
đô của Vương quốc Pagan, vương quốc đầu tiên thống nhất được các lãnh
chúa, hợp thành quốc gia Myanmar hiện đại. Trong thời hoàng kim của
vương quốc, từ thế kỷ thứ XI đến thế kỷ XIII, đã có hơn 10.000 ngôi
chùa, đền miếu và tu viện Phật giáo được xây dựng trên đồng bằng Bagan
rộng 104 km2, bên dòng sông Irrawaddy.
|
| Bình minh trên đền tháp Bagan. |
Những chùa chiền và tu viện này đã đào tạo hàng nghìn tăng sĩ về Phật
pháp, kiến trúc, thiên văn học, ngôn ngữ học…, đặt nền tảng cho nền văn
minh sông Irrawaddy, cội nguồn của văn hóa Myanmar hiện đại. Thời thịnh
trị có cả những đoàn tăng sĩ từ Ấn Độ, Tây Tạng, Khmer đến Bagan tu học.
Sự phát triển phồn thịnh suốt 250 năm của kinh đô Bagan chỉ chấm dứt
khi vó ngựa của đoàn quân viễn chinh Mông Cổ tràn qua đồng bằng này năm
1287.
Đến nay sau gần ngàn năm bị tàn phá bởi thời gian và binh lửa, Bagan
vẫn còn hơn 2.200 chùa chiền đền tháp tương đối nguyên vẹn, được bảo tồn
trong một cánh đồng diện tích khoảng 25 km2, không có dân cư sinh sống,
gọi là Khu khảo cổ học Bagan hay đơn giản là Old Bagan (Bagan Cổ). Ở
hai đầu nam bắc của khu bảo tồn có hai thị trấn nhỏ, Nyang-U và New
Bagan, nơi dừng chân của du khách bốn phương, có sân bay, bến xe, nhiều
khách sạn, nhà hàng, thậm chí có cả một sân golf.
Không để lỡ dịp ngắm bình minh trên đồng bằng Bagan, và còn quá sớm để
nhận phòng khách sạn, tôi uống vội ly cà phê trong quán cóc bến xe rồi
thuê xe thổ mộ đi đến nơi mà du khách vẫn thường tụ tập chụp ảnh mặt
trời mọc trên các đền tháp cổ. Người đánh xe gầy gò, mắt thâm quầng vì
thiếu ngủ, cùng con ngựa già lọc cọc đưa tôi đi vào khu di tích khi đất
trời còn tối mịt.
Đền Shweleiktoo nằm giữa con đường xuyên qua Old Bagan nối Nyang-U với
New Bagan, tuy không phải là ngôi đền to lớn nhất hay đẹp nhất, nhưng
trong đền có một cầu thang hẹp, chỉ vừa cho một người nhỏ con, tối đen,
dẫn lên một ban công rộng hướng về phía mặt trời. Lúc tôi lên đến nơi
trời hãy còn tối nhưng đã có vài du khách Nhật Bản và Thụy Sĩ ngồi chờ
với máy ảnh lăm lăm trong tay. Từ ban công này nhìn ra, cánh đồng Bagan
trải rộng tới chân trời, có rất nhiều đền, tháp lẩn khuất dưới các tàn
cây.
Khi mặt trời mọc dần lên, nền trời ửng lên màu hổ phách rất đẹp, rọi
một thứ ánh sáng huyền bí xuống các ngôi đền gạch làm chúng đỏ hồng lên
trong ánh bình minh. Lúc ấy tôi tiếc đã không mang theo cái máy ảnh
compact có chức năng chụp ảnh toàn cảnh (panorama), chiếc Canon EOS của
tôi dù đã mở ống kính hết cỡ cũng chỉ bao quát được một góc nhỏ của cảnh
quan hùng vĩ. Chung quanh đền Shweleiktoo, phía nào cũng điệp trùng đền
tháp, có tháp vươn cao trên nền trời, có tháp ẩn dưới tán lá, lại có
những đỉnh tháp dát vàng rực rỡ phản chiếu ánh nắng.
|
| Điện thờ và tượng Phật Gautama dát vàng cao gần 10 mét trong đền Ananda. |
Tôi dành trọn buổi sáng để theo người xà ích, kiêm hướng dẫn viên
nghiệp dư, đi tham quan những ngôi đền chính của Bagan. Rất nhiều ngôi
đền, vẻ ngoài còn nguyên vẹn nhưng đã hoàn toàn hoang phế nằm lặng im
bên những con đường lầm cát, nhưng cũng có những ngôi đền vẫn còn thực
hiện chức năng tôn giáo, nơi người dân đến cúng viếng và cầu phước. Mỗi
ngôi đền có một vẻ riêng, không giống nhau. Do thời gian có hạn, tôi chỉ
chọn một số ngôi đền chính, còn nguyên vẹn và tiêu biểu nhất.
Đền Ananda, đúng hơn là chùa Ananada (Ananda Pahto) nằm cuối con đường
dẫn vào kinh thành cổ Bagan – nơi có cung điện của các vị vua. Đền được
xây dựng bởi vua Kyansittha vào năm 1105, bị động đất phá hủy một phần
vào tháng 7 năm 1975, sau đó được Phật tử đóng góp trùng tu lại, trở
thành một trong những ngôi đền còn nguyên vẹn nhất, và cũng được tôn
kính nhất Bagan. Sách hướng dẫn du lịch nước ngoài liệt đền Ananda là di
tích số 1 mà du khách phải thăm khi đến Bagan.
Tháp chính của đền Ananda cao 54 mét, đỉnh tháp dát vàng; tháp có 4 mặt
nhìn ra bốn hướng, mỗi mặt có một gian thờ, bài trí một tượng Phật
khổng lồ cao gần 10 mét, dát vàng lấp lánh. Tượng hướng về phía Đông là
Phật Konagamana (Câu Na Hàm Ma Ni), hướng về Tây là Phật Gautama (Cồ
Đàm), hướng Nam là Phật Kassapa (Ca Diếp) và hướng Bắc là Phật Kakusanda
(Câu Lưu Tôn). Đây là các vị Phật của thời hiện kiếp, quán cả bốn cõi,
xuất hiện trên trần thế để cứu rỗi chúng sinh bằng năng lực trí tuệ vô
biên. Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng, đền Ananda được xây dựng bởi
các kiến trúc sư và thợ thủ công Ấn Độ, có rất nhiều nét tương đồng về
kiến trúc với các đền tháp ở quê hương đức Phật. Ngoài các tượng Phật
khổng lồ, dọc các hành lang rộng trong đền có rất nhiều tượng nhỏ và
nhiều tranh tường (bích họa) kể lại cuộc đời của Phật Thích ca, từ lúc
ngài đản sinh, chứng quả cho đến lúc nhập diệt.
Khi tôi đến, có vài chiếc xe khách nhỏ chở Phật tử đến cúng buổi sáng.
Trong đền, có người bán hoa và những mảnh vàng cán mỏng, tiếng địa
phương gọi là lam, để người hành hương cúng dường đức Phật và sau khi
cầu nguyện họ dán các mảnh vàng đó lên thân tượng. Do phong tục này mà
một số bức tượng nhỏ, hình như là tượng La-hầu-la, dưới chân tượng Phật
Gautama có “da dẻ sần sùi” trông rất lạ.
Đền Ananda là một trong hai ngôi đền có một quầy sách nhỏ, bày bán các
loại kinh sách phục vụ Phật tử, lẫn các sách nghiên cứu về di tích đền
tháp ở Bagan và Myanmar nói chung; những người có ý hướng nghiên cứu thì
không nên bỏ qua quầy sách này.
Bagan - Muôn vẻ đền đài
|
|
|
|
| Đền Thatbyinnyu trên đồi, thoạt nhìn giống như một tu viện Thiên chúa giáo ở châu Âu. |
(TBKTSG Online) - Đền Thatbyinnyu nằm trên một ngọn đồi nhỏ gần đền
Ananda và là ngôi đền cao nhất Bagan (61 mét), được xây dựng dưới triều
vua Alaungsithu, khoảng giữa thế kỷ XII. Nhìn bề ngoài, đền Thatbyinnyu
đồ sộ, quét vôi trắng, trông giống như một tu viện Thiên chúa giáo thời
Phục Hưng ở châu Âu.
Bên trong đền Thatbyinnyu có các dãy hành lang dài, bố trí các bàn thờ
với tượng Phật nhiều tư thế và hình dáng khác nhau, nhưng tất cả đều
được dát vàng lấp lánh. Phần lớn Phật tử tôi gặp đến cúng viếng ở đền
này buổi sáng hôm ấy là phụ nữ.
Nghe nói thời xưa, đền Thatbyinnyu là kho tàng bích họa của nghệ thuật
Phật giáo Myanmar, nhưng trong những đợt trùng tu người ta đã quét vôi
trắng lên tường, làm mất hết các bức họa quý giá. Đi chân trần trên
những lớp đá xanh mát lạnh và mòn vẹt dưới hàng triệu bước chân của
khách thập phương, giữa các hành lang vắng lặng và hun hút gió, hai bên
là những bức tượng Phật lấp lánh ánh vàng của đền Thatbyinnyu, tôi có
cảm giác thật yên bình và thanh thản, dường như cuộc sống tất bật nơi
phố thị đã rời xa, rất xa.
|
| Đền Shwesandaw có cầu thang ở bốn mặt. |
Đền Shwesandaw trông xa giống như một kim tự tháp Ai Cập, có 4 mặt, 5
tầng và một stupa (tháp hình quả chuông úp) trên đỉnh. Tương truyền,
ngôi đền này được xây dựng bởi vua Anawrahta năm 1057 để lưu giữ xá lợi
là một trong 8 sợi tóc của Phật Thích ca được đem về từ Ấn Độ hồi trước
công nguyên. Điểm đặc biệt của đền Shwesandaw là có bốn cầu thang bằng
gạch ở bốn mặt, mỗi cầu thang có 5 tầng. Để du khách và người hành hương
có thể leo lên các ban công trên cao, người ta đã lắp một dãy ống tuýp
sắt khá vững chãi bên phải của cầu thang để du khách dễ leo lên cao vì
cầu thang khá dốc và hẹp.
Đây là nơi du khách thường tụ tập để ngắm và chụp ảnh mặt trời lặn trên
dòng sông Irrawaddy. Cũng giống như đền Thatbyinnyu, các bức tường của
đền Shwesandaw được tô trát cẩn thận và quét vôi trắng, không rõ từ
nguyên thủy đã như vậy hay do người đời sau trùng tu, vì đa phần đền
tháp ở Bagan được xây bằng gạch để trần, không tô trát, tương tự các
tháp Chăm ở nước ta. Buổi chiều tối, lúc tôi trở lại đền Shwesandaw thì
các ban công hẹp trên cả 5 tầng tháp đều đông kín du khách, bãi cát
trước đền cũng ken đầy xe hơi, xe khách, xe đạp và xe thổ mộ.
|
| Đền Dhammayangyi rộng nhất Bagan. |
Cách không xa đền Shwesandaw là đền Dhammayangyi, có cổng vào và tường
gạch bao quanh dù nhiều đoạn tường rào đã đổ nát. Dhammayangyi là ngôi
đền rộng lớn nhất ở khu di tích Bagan, và tài liệu cho biết người ta đã
phải dùng đến 6 triệu viên gạch để xây nên nó. Không giống các đền khác,
đền Dhammayangyi không có đỉnh tháp nhọn ở giữa có treo một cái chuông
gió như thường thấy ở các đền tháp khắp Myanmar.
Tương truyền, đền Dhamayangyi được vua Narathu (1167-1170) cho xây dựng
để sám hối tội lỗi đã giết cha, anh và vợ để chiếm ngôi vua. Bản thân
vua Narathu cũng bị ám sát trước khi ngôi đền được xây dựng xong. Trong
quá trình xây dựng, có một số thợ xây người Ấn Độ bị nhà vua xử tử vì
làm việc không khéo léo, để mạch vữa giữa các viên gạch quá rộng. Do
lịch sử huyền bí của ngôi đền này mà cư dân địa phương thường gọi đây là
“ngôi đền ma”; bên trong có nhiều đàn dơi, quạ làm tổ và chất thải của
chúng khiến cho trong đền có mùi khó chịu.
Hai ngôi đền khác, có kiến trúc gần giống nhau, cũng có tường gạch bao
quanh với quy mô to lớn tương đương là đền Htilominlo xây dựng năm 1246,
mang tên vị vua đã xây dựng nên nó. Đền có 3 tầng, cao 46 mét, còn
nguyên vẹn và được bảo quản khá tốt. Htilominlo đại diện cho phong cách
kiến trúc muộn nhất của kiến trúc Phật giáo Myanmar ở Bagan trước khi
kinh đô này chấm dứt vai trò lịch sử của nó. Để thăm đền này, du khách
phải mua vé 5 đô la Mỹ, và đây là một trong hai ngôi đền có bán vé vào
cửa cho khách tham quan, tất cả những di tích còn lại đều miễn phí.
|
| Htilomilo có lẽ là ngôi đền đẹp nhất Bagan. |
Đền Sulamani nằm giữa cánh đồng trống, xa đường cái, được vua Sithu đệ
nhị xây dựng vào năm 1183, là nơi còn lưu giữ được một số bích họa với
nét vẽ thô vụng, nhưng đáng tiếc là các cuộc trùng tu cũng đã làm mất đi
nhiều những đặc điểm cổ xưa của ngôi đền. Sulamani là ngôi đền duy nhất
ở Bagan có hai dãy nhà lá dọc lối vào bày bán các loại đồ lưu niệm, chủ
yếu có tranh cát và tượng khắc gỗ.
Cũng giống đền Ananda, đền Sulamani có bốn mặt nhìn ra bốn hướng, nối
với nhau bằng các hành lang rộng, mỗi mặt có một điện thờ thờ Phật Thích
ca; dọc hành lang cũng có những hốc tường, mỗi hốc là một điện thờ
Phật. Tôi để ý thấy một cô gái vào đền rồi đi thẳng tới một hốc tường
sâu bên trong và quỳ xuống làm lễ ở đó; không rõ có phải vị Phật được
thờ tại điện thờ này là “thần hộ mệnh” của cô hay không.
Bồ Đề đạo tràng và chùa vàng Shwezigon
|
|
|
|
| Một góc Bồ Đề đạo tràng Mahabodhi Bagan. |
(TBKTSG Online) - Sẽ thiếu sót lớn nếu đến Bagan mà không ghé thăm Bồ
Đề đạo tràng Bagan (Mahabodhi) nằm trong khu vực thành Bagan cổ - một
bản sao thu nhỏ của Bồ Đề đạo tràng (Bodhigaya) nguyên gốc ở Ấn Độ.
Tương truyền, đức Phật Thích ca chứng quả, đạt tới đại ngộ đại giác,
sau 49 ngày đêm thiền định dưới bóng một cây bồ đề thiêng. Tại nơi thiền
định của ngài, vào năm 250 trước Công nguyên, vua A Dục (Asoka) của
vương triều Maurya đã cho xây dựng một bảo tháp bốn mặt, ghi dấu hành
trình chứng ngộ của đức Phật. Bảo tháp của A Dục vương đã được trùng tu
nhiều lần và cùng với cây bồ đề thiêng - tại một thánh địa gọi chung là
Bồ Đề đạo tràng - là trái tim của văn hóa Phật giáo thế giới.
Bồ Đề đạo tràng ở Bihar Ấn Độ từng bị tàn phá bởi quân Thổ xâm lược vào
thế kỷ XII và Phật giáo Bagan đã cử những đoàn nghệ nhân sang giúp xây
dựng lại để rồi khi trở về Myanmar, năm 1215, dưới triều vua Nadaungmya
(1211-1234), những nghệ nhân này đã xây dựng một ngôi đền tháp theo
nguyên mẫu của tháp Bodhigaya, (theo tấm bia đặt trước cổng vào đền
Mahabodhi).
Về mặt kiến trúc và vị trí, Mahabodhi Bagan hoàn toàn khác các đền tháp
Phật giáo trong khu di tích này; nó không nằm ngoài cánh đồng mà ở
trong kinh thành, cạnh cung điện của các vị vua. Kinh thành là một khu
đất rộng có tường gạch cao và dày bao bọc chung quanh, tương tự như
hoàng thành của triều Nguyễn ở Huế, bên trong thành có cung điện của các
vị vua, nay được xây dựng lại hoàn toàn mới để phục vụ du lịch.
Hiện nay tường thành đã sụp đổ, chỉ còn lại những mô đất cao, nhưng qua
phần tường còn sót lại ở cổng thành Thiraba Gate, người ta có thể hình
dung được quy mô đồ sộ của ngôi thành này. Bên trong thành còn có Bảo
tàng Khảo cổ học Bagan và có cả một khu di tích đang được khai quật được
rào chắn cẩn thận.
Mahabodhi có hai tầng, một tầng đế và một tầng tháp, chiều cao tổng
cộng 42,6 mét, nhưng không rõ vì sao cầu thang lên tầng trên đã bị bít
lại. Ở tầng đế có một gian thờ Phật rộng, nhưng khác với tất cả các đền
tháp còn lại, gian thờ này có cửa ra vào, cánh cửa sơn son thếp vàng và
được khóa bằng một ổ khóa thép chế tạo riêng cho Nữ hoàng Victoria bên
Anh. Chung quanh đền có rất nhiều hốc tường nhỏ, mỗi hốc tường đều có
một tượng Phật an vị, tổng cộng có 465 tượng Phật ở nhiều tư thế.
Tầng tháp có bốn mặt, gồm hàng trăm bức phù điêu miêu tả cuộc đời đức
Phật, giống hệt tháp Bodhigaya ở Bồ Đề đạo tràng Ấn Độ và hàng chục tháp
Bồ Đề khác trên khắp Myanmar. Tiếc là trước cửa vào điện thờ chính của
Bồ Đề đạo tràng Bagan người ta đã dựng lên một căn nhà mái tôn làm nơi
tập trung, sửa soạn đồ lễ của người hành hương và căn nhà này đã phá
hỏng kiến trúc và không khí tôn nghiêm của Bồ Đề đạo tràng.
|
| Đền vàng Shwezigon còn nguyên vẹn, khá giống đền vàng Shwedagaon nổi tiếng ở Yangon và là biểu tượng của văn hóa Myanmar. |
Cũng như Mahabodhi, đền vàng Shwezigon là một ‘ngoại lệ’ ở Bagan, trước
tiên vì đền được dát vàng từ chân lên đỉnh tương tự như chùa vàng
Shwedagon nổi tiếng ở Yangon; đêm đêm, ánh đèn pha phản chiếu từ ngôi
đền làm sáng rực cả một vùng. Đền Shwezigon không nằm trong thành cổ như
Mahabodhi, cũng không nằm ngoài cánh đồng như những ngôi đền khác mà
đứng riêng một cõi gần bến xe Nyang-U. Nếu như các đền tháp khác đều ít
nhiều bị thời gian tàn phá thì đền Shwezigon hoàn toàn nguyên vẹn, dù
ngôi đền được xây dựng từ năm 1102, dưới thời các vua Anawrahta và
Kyansittha.
Ngày nay, đền Shwezigon là một khu phức hợp rộng hàng chục hécta có
tường cao bao bọc chung quanh. Ở chính giữa khu phức hợp là ngôi đền
vàng khổng lồ, chung quanh có hàng chục ngôi đền nhỏ hơn cùng với nhiều
dãy nhà rộng làm nơi tụ họp của Phật tử, nơi chuẩn bị đồ lễ trong những
dịp lễ hội. Những hành lang dài có mái che dẫn vào đền được cư dân trong
vùng tận dụng để mở những dãy sạp bán hàng lưu niệm và bên trong ngay
cạnh đền chính cũng có những quày hàng như vậy. Hàng lưu niệm mang đặc
trưng Bagan là những bức tranh cát - họa sĩ dùng cát nhuộm màu rồi tô
lên những tấm vải có phết keo, tạo thành những bức tranh miêu tả cảnh
quan đền đài hoặc những họa tiết kiến trúc ở Bagan.
Nên lưu ý là những người bán hàng ở đền Shwezigon, và ở nhiều ngôi đền
khác nữa, rất ‘kiên trì’ đeo bám và du khách hiếm khi rời được ngôi đền
mà không mua một món hàng nào đó.
Một chút về Phật giáo ở Bagan
|
|
|
(TBKTSG
Online) - Sức hấp dẫn của Bagan có lẽ nằm ở hai điểm: di tích lịch sử -
văn hóa Phật giáo đồ sộ và lối sống xưa cũ còn sót lại.
Du khách rất dễ bị choáng ngợp trước số lượng, quy mô, tính đa dạng của
các đền tháp Phật giáo Bagan. Phần lớn đền tháp ở Bagan đều được xây
bằng gạch, các viên gạch chồng khít lên nhau gần như không có mạch hồ
(vữa), giống hệt kỹ thuật xây dựng đền tháp Chăm ở Việt Nam. Và cũng
giống tháp Chăm, hầu hết các đền tháp Bagan đều để nguyên tường gạch,
không tô trát; chỉ vài ngôi đền chính được tô trát và quét vôi trắng,
nhưng được biết đó là do các cuộc trùng tu gần đây. Nhờ khí hậu khu vực
này khô và nóng quanh năm nên các đền tháp Bagan không bị thời tiết hủy
hoại nhanh như các tháp Chăm ở Việt Nam; trên các bờ tường hầu như không
thấy rong rêu hay cây cối như các đền tháp ở Mỹ Sơn, Quảng Nam.
|
| Đền vàng Shwezigon. Ảnh: Nguyễn Minh. |
Do Myanmar là nước có nhiều vàng (Golden state) nhiều đền đài ở Bagan
được dát vàng lên phần đỉnh tháp, lên hàng trăm pho tượng Phật lớn nhỏ.
Gần như tất cả các tượng Phật thờ trong đền Ananda, đền Thatbyinnyu đều
dát vàng; ở các đền khác, những tượng Phật ở gian thờ chính là tượng
vàng, còn ở những hốc tường là tượng gỗ hay tượng đất sét.
Tuy nhiên, đặc trưng kiến trúc đền tháp Phật giáo ở Bagan là chuộng
hình thể, quy mô mà thiếu sự tinh tế của điêu khắc. Nếu như các đền tháp
Chăm ở Việt Nam có rất nhiều tác phẩm điêu khắc, phù điêu, tượng đá sa
thạch trên khắp các bức tường, bệ thờ thì đền tháp ở Bagan - trừ Bồ Đề
đạo tràng Mahabodhi - hầu như không có tác phẩm điêu khắc nào đáng kể
ngoài các tượng Phật hao hao giống nhau, chỉ khác nhau về kích thước và
tư thế.
|
| Tượng những linh vật ở Bagan thiếu những nét điêu khắc tinh tế thường thấy ở Việt Nam. Ảnh: Huỳnh Hoa |
Thỉnh thoảng, du khách bắt gặp một số tượng thú vật ở các cổng vào đền,
nhưng về chủng loại khá khiêm tốn, dường như chỉ có tượng voi và khỉ,
họa hoằn lắm mới thấy tượng rắn thần Naga vốn rất phổ biến ở Thái Lan và
Campuchia. Những tượng thú này cũng khá thô kệch, thiếu những chi tiết
điêu khắc sắc sảo thường thấy ở các nước khác.
Về mặt kiến trúc, đền tháp ở Bagan chia thành hai loại “đặc” và “rỗng”.
Stupa là loại đền thờ “đặc” theo kiểu kim tự tháp Ai Cập nhưng hình
dáng giống quả chuông úp; bên ngoài có cầu thang dẫn lên các ban công
hẹp trên cao; tiêu biểu cho loại này có đền Shwesandaw, đền vàng
Shwezigon… Hai là, loại đền thờ “rỗng” bên ngoài không có cầu thang
nhưng bên trong có nhiều hành lang ngang dọc; mỗi hành lang có nhiều hốc
bài trí bàn thờ và tượng Phật; tiêu biểu cho loại này có đền Ananda,
đền Sulamani, đền Thatbyinnyu, đền Dhammayangyi … Dù “đặc” hay “rỗng”
các đền tháp chính ở Bagan đều rất đồ sộ, hoành tráng, biểu thị sức mạnh
và quyền uy của vị vua đã xây dựng nên nó.
|
| Tượng Phật ở Bagan cũng khá đơn điệu. Ảnh: Huỳnh Hoa |
Du khách là Phật tử từ Việt Nam sang hẳn sẽ ngạc nhiên khi thấy tượng
Phật thờ trong các đền tháp ở Bagan khá đơn điệu vì chỉ có một vị Phật:
Đức Thích ca Mâu ni, không hề thấy bóng dáng các vị Phật A di đà, Phật
Di lặc hay các vị Bồ tát, La hán quen thuộc trong chùa chiền Việt Nam…
Căn nguyên của tình trạng này có thể bắt nguồn từ gốc rễ của Phật giáo:
Phật giáo Myanmar thuộc hệ phái Theravada, khác hoàn toàn với Phật giáo
Bắc tông đã bị “Hán hóa” phổ biến ở Việt Nam. Theravada có khi được dịch
là Phật giáo Tiểu thừa, dù không thật chính xác, nhưng đây là hệ phái
“nguyên thủy” nhất của Phật giáo, chỉ tôn thờ Phật Thích ca, tôn thờ trí
tuệ đại giác, cầu trí tuệ để ra khỏi vô minh, mà không mưu cầu danh lợi
hay giải thoát thông qua phép thuật của các vị Bồ tát.
Phật giáo Theravada ở Myanmar, có nguồn gốc từ Tây Tạng, cũng khác với
Phật giáo ở Thái Lan và Campuchia, không thấy có ảnh hưởng của Ấn Độ
giáo (Hinduism). Không tìm thấy ở Bagan tượng thờ hoặc đền tháp thờ các
vị thần linh Ấn Độ giáo như Brahman, Vishnu hay Shiva, cũng không thấy
những bức phù điêu hay bích họa kể truyền thuyết Mahabharata vẫn thường
gặp ở Angkor bên Campuchia hay Ayuthaya bên Thái Lan.
Những điểm khác biệt này của Phật giáo Myanmar cũng như ảnh hưởng của
nó đối với đời sống tinh thần - văn hóa của người Myanmar là những đề
tài lớn, cần có thời gian và công phu nghiên cứu, trên đây chỉ là cảm
nhận ban đầu của một lữ khách ghé đến Bagan trong hai ngày ngắn ngủi, có
thể chưa chính xác.
Bagan - Nơi thời gian dừng lại
|
|
|
|
| Việc trùng tu theo kiểu "hiện dại hóa" làm giảm đi phần nào giá trịn mỹ thuật và bảo tồn của một số đền, tháp ở Myanmar. |
(TBKTSG Online) - Từ những nơi đô hội về đây, du khách đều có cảm giác
yên bình lạ lùng, có thể do suốt ngày lang thang trong các đền miếu,
tiếp xúc với những người hành hương mộ đạo, cũng có thể do nhịp sống ở
Bagan chậm rãi một cách lạ lùng.
Thị trấn rất nhỏ, chỉ vài ngàn dân, ngoài hai con đường lớn có trải
nhựa, mỗi con đường dài khoảng 10 km chạy từ bắc xuống nam thì còn lại
là đường đất, không có vỉa hè, không có cống rãnh, nhiều đoạn nước bẩn
chảy lênh láng; người dân có khi tạt nước bẩn lên mặt đường để chống
bụi.
Khi đặt chân đến Yangon tôi đã có cảm giác ở đất nước này thời gian như
ngừng lại cách đây vài chục năm khi nhìn thấy trên đường phố những khu
chung cư cũ kỹ, những chiếc xe khách, xe lam từ thập niên 1960 vẫn cần
mẫn chở người và hàng hóa, hành khách chen kín trong thùng xe và bu bám
cả bên ngoài xe giống như ở Việt Nam thời bao cấp.
|
| Người dân Bagan cày bừa giống như tổ tiên họ đã làm nhiều thế kỷ trước. |
Tới Bagan cái cảm giác ấy còn đậm thêm, thậm chí có lúc đứng nhìn người
nông dân đánh đôi bò kéo cày trên cánh đồng đầy cát, phía sau nhấp nhô
những đền tháp hoang tàng, tôi cứ cảm giác rằng thời gian đã dừng lại
hàng trăm năm, hàng ngàn năm và nền văn minh vật chất của thế kỷ 21
dường như chỉ là một ảo ảnh.
Đi trong khu di tích Bagan đôi lúc tôi tưởng như mình đang đi trên đất
Phan Rang, Ninh Thuận: cũng những cánh đồng rộng, bầu trời cao và xanh,
những con đường lầm cát chạy giữa các bụi cây xương rồng, cây keo và
những hàng cây thốt nốt. Người dân ở đây không trồng lúa, cũng không
trồng các loại cây công nghiệp vì không có nước tưới; họ chỉ trồng những
giống cây ngắn ngày và chịu khô hạn; dùng bò kéo cày bừa như tổ tiên họ
từng làm thuở Bagan còn là một kinh đô thịnh vượng. Tại thời điểm này
trong năm, việc thu hoạch đã xong, chung quanh các đền tháp là những
cánh đồng trống, phẳng lì và lộng gió.
Hoạt động kinh tế chính của Bagan là dịch vụ du lịch và các nghề thủ
công như đan lát, chạm khắc gỗ, sản xuất hàng sơn mài. Đồ sơn mài của
Bagan nổi tiếng thế giới và cũng là một “sản phẩm du lịch” hấp dẫn, song
do thời gian hạn hẹp, tôi chưa có dịp đi thăm các cơ sở làm sơn mài ở
làng Myinkaba trên đường tới New Bagan, đành phải hẹn một dịp khác.
Ở Bagan, xe hơi là của hiếm, người dân vẫn đi lại trên những chiếc xe
tải nhỏ, được che thêm tấm bạt trên thùng xe làm nơi chở người; có khá
nhiều chiếc máy cày kéo theo sau cái rơ-móc để chở người hay vật liệu
xây dựng, máy nổ ầm ầm và khói bay mịt cả một vùng.
|
| Một cô gái Bagan mài rễ cây lấy bột thanaka để mời du khách dùng thử. |
Đàn ông, đàn bà Myanmar đều mặc váy; đàn ông ăn trầu và hút thuốc lá;
đàn bà thường bôi trên mặt một loại bột màu vàng, gọi là thanaka, làm từ
rễ một loại cây bản địa, có tác dụng dưỡng da, chống nắng. Bột rễ cây
thanaka, trộn với chất keo nha đam (aloha vera), ép thành từng bánh nhỏ
như bánh quy, hoặc đựng trong lọ mỹ phẩm, là một trong những đặc sản của
Bagan mà du khách thường mua làm lưu niệm. Và cũng giống như ở những
thị trấn nhỏ ở Việt Nam, đàn ông thường tụ tập trong các quán trà, bàn
tán suốt ngày về các mẫu xe gắn máy mới, điện thoại di động mới… đang là
mốt thời thượng ở đất nước vừa mở cửa giao thương này.
Nói chung, người Myanmar ở Bagan rất thân thiện, dễ mến, một phần do
nền văn hóa truyền thống, một phần do chủ trương chào đón và chăm sóc du
khách của xứ này. Nhưng cũng như ở những vùng du lịch khác, những người
bán hàng rong ở đây thường chèo kéo, bu bám du khách để chào mời dịch
vụ của họ.
Từ Bagan nghĩ về Mỹ Sơn
Xét về giá trị lịch sử, về đặc điểm kiến trúc, khu di tích Bagan rất
gần gũi với thánh địa Mỹ Sơn (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam): cũng những
đền tháp bằng gạch đỏ uy nghi mang trên mình bao lớp phế hưng. Bởi vậy,
cũng như những người Việt từng đặt chân tới miền đất Phật Bagan, cảm
giác chung của chúng tôi là nghĩ về Mỹ Sơn, về những ngọn tháp Chăm cô
quạnh trên dải đất miền Trung nắng gió, từ Quảng Bình tới Ninh Thuận.
Có người nói rằng, so với hàng ngàn đền tháp còn khá nguyên vẹn của
Bagan thì những đền tháp Mỹ Sơn “thật tội nghiệp”: chỉ vỏn vẹn vài ba
tháp mà hầu hết đã hoang tàn đổ nát, trông như những “lò gạch cũ” bỏ
hoang.
Cũng có thể như thế. Chỉ xin lưu ý rằng, từ năm 1989, khu di tích Mỹ
Sơn đã chính thức được Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên
hiệp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa thế giới, hiện đang được
các chuyên gia khảo cổ của Việt Nam, Ý, Nhật và Ba Lan nỗ lực trùng tu,
tôn tạo để giữ cho hậu thế một di sản kiến trúc tôn giáo đặc sắc. Trong
khi đó, Bagan đã nhiều lần bị UNESCO từ chối, không đưa vào danh sách Di
sản văn hóa thế giới, dù quy mô và bề dày lịch sử của Bagan hơn hẳn Mỹ
Sơn.
|
| Xe thổ mộ, xe ngựa là phương tiện di chuyển thích hợp nhất cho du khách. |
Nguyên nhân là vì Myanmar đã thực hiện không tốt việc trùng tu, bảo
quản và tôn tạo khu di tích có một không hai này. Để thu hút du khách,
người ta đã cho làm một con đường bốn làn xe hơi xuyên qua khu di tích
Bagan Cổ nối thị trấn Nyang-u với thị trấn New Bagan, đã xây một “tháp
ngắm cảnh” (Seeing Tower) cao vòi vọi ngay giữa khu di tích, thậm chí
còn cho mở một sân golf ngay ở nơi cần bảo tồn nghiêm ngặt.
Tệ hơn nữa, công cuộc trùng tu, tôn tạo đã phần nào làm biến dạng các
đền tháp, hoặc khiến cho chúng không còn giữ nguyên được hình dáng,
đường nét và chất liệu nguyên thủy, từ đó làm giảm giá trị của di tích
cả về lịch sử lẫn văn hóa. Có nơi, như đền Sulamani, chùa vàng
Shwezigon… người ta còn dùng cả gạch men để lát lên những lối đi mà ngày
xưa chỉ là đường đất, đường đá. Việc lạm dụng vàng để tô trát lên đền
tháp, lên tượng Phật cũng khiến cho các di tích này trở nên “mới mẻ”,
“hiện đại” một cách đáng ngờ.
Dù sao, với những gì còn giữ được, với những du khách và người hành
hương bình thường, Bagan xứng đáng là một điểm đến hết sức hấp dẫn mà
trong hai ngày lang thang tôi mới chỉ chạm đến một chút vỏ bên ngoài. Từ
Bagan, nhìn về Mỹ Sơn càng thấy phải quý những gì mà đất nước mình đang
có để mà trân trọng, rút ra bài học từ Bagan để mà gìn giữ di tích sao
cho xứng đáng với công khó của tiền nhân.
Saigon, tháng 6-2013.
Cần biết trước khi đến Bagan - Myanmar
|
|
|
(TBKTSG
Online) - Bagan (tên cũ là Pagan) từng là kinh đô của vương quốc Pagan
tồn tại từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIII ở miền trung Myanmar, ngày nay là
một khu vực khảo cổ thuộc vùng Mandalay. Du khách nước ngoài đến Myanmar
thường bay đến Yangon, thành phố lớn nhất của đất nước này, sau đó dừng
chân ở Mandalay, từng là kinh đô của vương triều cuối cùng của Myanmar
và hiện nay là thành phố lớn thứ hai của Myanmar.
Cả nước Myanmar có hàng vạn ngôi đền, chùa, tháp nằm rải rác trên khắp
đất nước; tập trung nhiều nhất ở thành phố Bagan, gồm khoảng hơn 4.000
đền, chùa, tháp lớn nhỏ trên diện tích khoảng 40km2. Vì vậy, cũng như
Campuchia, Myanmar còn được gọi là đất nước Chùa Tháp.
Phương tiện di chuyển được ưa chuộng của du khách ở Bagan là xe thổ mộ
và xe đạp. Cũng có xe taxi nhưng xe rất cũ, không có tổng đài để gọi xe
(muốn gọi taxi khách phải nhờ lễ tân khách sạn và thường phải đặt trước
vài tiếng đồng hồ). Nói chung, ở Myanmar, kể cả ở Yangon - thành phố lớn
nhất Myanmar, taxi không có đồng hồ tính cước, trước khi đi khách phải
thỏa thuận giá cước với lái xe, thường không rẻ lắm và dễ bị hớ.
Xe thổ mộ, tuy xưa cũ nhưng giá cước cũng khá đắt. Tiền thuê một chiếc
xe ngựa để đi lại trong một ngày vào khoảng 25.000 kyats (tương đương
550.000 đồng Việt Nam); người đánh xe đôi khi nói được chút ít tiếng
Anh, có thể kiêm luôn “hướng dẫn viên du lịch”. Tuy nhiên, khó mà nói
chuyện được với “hướng dẫn viên”, một phần vì đa số họ rất kiệm lời,
phần vì đa số đàn ông Myanmar vừa hút thuốc lá vừa ăn trầu nên hơi thở
của họ có mùi khó chịu.
Xe đạp có giá thuê khoảng 1.500 kyats mỗi ngày. Nhưng đạp xe trên những
con đường đầy cát, dưới ánh nắng chói chang và không khí nóng bức là
điều không dễ chịu chút nào, nhất là đối với du khách đã quen với cuộc
sống thành phố và công việc văn phòng.
Điện
ở Bagan, cũng như ở Myanmar nói chung, rất chập chờn và hầu như không
có đèn đường. Du khách nên mang theo đèn pin, và khi có điện nên tranh
thủ sạc các thiết bị điện tử vì không biết điện sẽ bị cắt lúc nào. Một
số khách sạn lớn ở Bagan có dịch vụ Internet và Wi-Fi nhưng tốc độ truy
cập rất chậm, lại thường bị mất điện.
Một điều cần lưu ý là khi vào thăm các di tích đền tháp ở Bagan, du
khách phải bỏ giày dép, kể cả tất (vớ) ở ngoài cửa và đi chân đất. Vì
thế, chỉ nên mang dép hoặc sandal, hạn chế mang giày để đỡ mất thời gian
và nên tránh đi thăm đền vào buổi trưa vì nền đất rất nóng.
Bagan phát triển du lịch đã lâu nên có nhiều khách sạn, nhà nghỉ từ
bình dân đến cao cấp. Nhà nghỉ bình dân (guest house, hostel) có giá khá
bèo, khoảng 7 đô la Mỹ/giường/đêm, phù hợp với những người trẻ đi
“phượt”; khách sạn có ăn sáng, có Wi-Fi miễn phí giá khoảng 40-50 đô la
Mỹ, còn khách sạn có hồ bơi hoặc resort có khi đến 150 đô la/phòng/đêm.
Ăn uống thì không thành vấn đề: người Myanmar ăn uống khá giống người
Việt, chỉ khác là cơm, rau và thịt cá được trộn chung vào một đĩa chứ
không dọn thành những món riêng. Ở Bagan cũng có khá nhiều tiệm ăn Ý, Ấn
Độ, Hoa, Thái để du khách lựa chọn, tiền ăn mỗi bữa tốn khoảng từ 2 đến
6 đô la Mỹ, tùy thực đơn.
Thức uống phổ biến ở Myanmar là món trái cây xay (sinh tố) giá khoảng
1.000 kyats, trà Myanmar (Myanmar tea) là món trà sữa, giá khoảng 300
kyats. Trà xanh như người Việt thường uống ở đây gọi là trà Tàu (Chinese
Tea), được bày sẵn trên bàn trong các bình thủy nhỏ để khách uống miễn
phí. Cà-phê ở đây ít người dùng, khi gọi cà-phê thì quán chỉ phục vụ một
ly nước sôi và một gói cà-phê hòa tan 3 trong 1, tùy khách pha chế, giá
khoảng 300 kyats.
|
| Bài và ảnh: Huỳnh Hoa |
|
|
Bình nguyên lửa Bagan
Bagan (Myanmar) thức giấc
buổi sớm với bước chân của dòng sư khất thực. Không náu mình trong những
khu rừng rậm rạp, quần thể Bagan với hơn 2. 000 chùa tháp trải trên
diện tích rộng hàng chục km2 dưới cái nắng thiêu đốt của miền đất đỏ.
Mặt trời lên, màu bụi đỏ cuộn sau những bước chân, sau vòng quay của
chiếc xe đạp lững thững và tiếng ngựa leng keng. Mùa khô, những thảm lá
vàng rụng đầy hai bên lối đi và cái nắng hanh hao khiến cát thêm nóng
bỏng dưới chân, khiến những ngôi đền được làm bằng đất đỏ rực lên như
màu lửa. Không khí quạnh đỏ màu đất, màu trời và những thân cây cũng
nhuộm một màu nắng gió.
Bagan không thu vé vào cửa cho từng địa điểm mà thu ngay từ cửa ngõ vào
thành phố. 10$ là phí để vào thành phố lịch sử này. Lọc cọc, chiếc xe
ngựa đưa những đoàn khách khám phá Old Bagan, khu đền đài tỉ mẩn với
từng đường nét của bức tường chạm trổ đượm màu thời gian, những ngôi đền
đã đứng vững trong nắng gió và cát hay những trận mưa vần vũ của đất
trời. Với dòng Phật giáo tiểu thừa, khu di tích Bagan và Angkor Wat là
hai đại diện tiêu biểu nhất của những kiến trúc độc đáo, giàu tính lịch
sử.
 |
|
Bagan là một trong những điểm đến tuyệt vời nhất của đất nước Myanmar. |
Nền văn minh huy hoàng từng tồn tại giờ vẫn hiện hữu trong cuộc sống
thường nhật. Con đường ngựa tung bụi đỏ, những người khách bộ hành
nhường đường cho xe qua. Lũ trẻ đến trường trên những chiếc xe đạp lênh
khênh, bầy em nhỏ ríu rít vẫy vẫy tay chào khách và những ngôi đền im
lìm đứng hai bên bình nguyên rộng lớn như muôn đời nay.
Những câu “Mingalarbar... Mingalarbar... Mingalarbar...” ( Xin chào! Xin chào!...) rộn rã khắp con đường đất đỏ.
Cái nắng như muốn vắt kiệt sức lực của những vị khách đang lắc lư trên
mình xe ngựa. Tiếng xe lọc cọc trong cái yên ả quyến rũ của buổi trưa
nồng. Tiếng gió xào xạc và những ngôi đền hiện mình trong nắng, sau
những nhành cây thâm thấp gần và xa. Dừng lại trong ngôi đền Sulamani,
những đoàn khách nghỉ lại ăn lót dạ với những chiếc bánh còn thơm mùi
bột mì, uống trà sữa trong bát tô, nhấm nháp những trái táo dại mọc đầy
quanh đó và ngả lưng chợp mắt trong không khí mát lạnh của ngôi đền gần
1.000 năm tuổi.
 |
|
Xe ngựa hoặc xe đạp là hai lựa chọn phổ biến để thăm Bagan. |
Chiều buông, những chiếc xe trở hàng trăm vị khách từ các ngả đổ về
Thatbyinnyu, ngôi đền cao nhất Bagan để ngắm nhìn cảnh mặt trời lặn khá
ngoạn mục.
Theo lối dẫn của người dân Bagan canh đền, du khách sẽ leo lên tầng cao
nhất của Sulamani. Từ nơi đây, hiện ra trong tầm mắt của du khách là
bình nguyên mênh mông, vầng dương rực đỏ hạ thấp xuống đường chân trời
xa xăm, bao trùm một vầng hồng cam rực rỡ lên những ngôi đền, lên những
hàng cây chỉ còn trơ trụi cành, những đàn bò vội vã về chuồng khiến bụi
hồng mù mịt. Nơi đây tựa như cảnh sắc của một sa mạc khô cằn, vạn vật
huyền ảo trong màn bụi. Và từ đây có thể phóng tầm mắt tới địa đạo
Kyansittha Umin với những bức họa nổi tiếng hơn 1.000 năm tuổi. Migala
Zedi - ngôi chùa vĩ đại và chùa Ananda với những trụ tháp cao nhất
Myanmar.
 |
|
Bagan đẹp nhất vào tháng giêng khi thời tiết mát mẻ và những hàng cây thay lá tuyệt đẹp. |
Đêm nhanh chóng sầm sập đổ xuống những mái đền và bầu trời huyền ảo ánh
sao lấp loáng. Những ngôi đền vững chãi và im lìm trong bóng đêm đặc
quánh, hiện hữu trong những giấc mơ, xen lẫn tiếng ngựa lắc lư, lóc cóc
trên mặt đường đỏ quạch màu đất lẫn màu trời. Nhấp nhóa nụ cười rạng rỡ
của anh nài ngựa vừa ghìm cương vừa nhiệt tình giới thiệu nơi này nơi
kia cho các vị khách phương xa.
Bài và ảnh: Lam Linh
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét