Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Syrie. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Syrie. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2018

Khám phá Syria - đất nước sản sinh ra bài ca đầu tiên của nhân loại

Ít người biết rằng, đất nước đầy bom đạn như Syria lại có lịch sử âm nhạc lâu đời hơn bất cứ nơi nào trên thế giới.

Syria là nơi khai sinh nhiều nhạc cụ độc đáo.
Nhà nước Syria được thành lập năm 1946 nhưng âm nhạc nơi đây đã có lịch sử từ hàng nghìn năm trước. 
Theo BBC, những bộ tộc với nhiều tôn giáo khác nhau đã đến rồi đi, dọc theo chiều dài cả thiên niên kỷ của Syria như: Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Do Thái, Ả Rập, Armenia hay người Kurd... đều đóng góp một phần vào di sản âm nhạc khổng lồ này. 
Vào những năm 1950, các nhà khảo cổ đã tìm thấy 29 viên đất sét có niên đại khoảng 3.400 năm tuổi ở thành phố cảng Ugarit cổ xưa trên bờ Địa Trung Hải của Syria.
Những viên đá này gần như đã bị vỡ vụn nhưng một trong số đó vẫn còn giữ được ở dạng lớn, sau này nó được đặt tên là H6. Những gì khắc trên H6 được các nhà nghiên cứu tin là ví dụ đầu tiên về ký hiệu âm nhạc và lời bài hát của con người.
Những mảnh đất sét này chính là sự khởi đầu của một di sản âm nhạc đồ sộ có một không hai của Syria. Các nhà khoa học đã dành nhiều năm để ghép các viên đá cổ nhằm tìm ra nội dung viết trên đó.
Những văn bản này được viết theo dạng chữ hình nêm của người Babylon, hệ thống chữ viết phổ biến khắp khu vực Địa Trung Hải cách đây hàng nghìn năm.
Richard Dumbrill, giáo sư tại Đại học Babylon, đã dành ra hơn 20 năm để nghiên cứu các phiến đá ở Ugarit. Ông đã chụp ảnh và cố gắng ghép chúng lại như trò giải đố, nhưng một số đã bị hư hại đến mức không thể phục hồi.
Theo giáo sư, tài liệu khó dịch này bắt nguồn từ một hệ thống ngôn ngữ được gọi là Hurrian phía đông bắc vùng Caucasus (địa phận Armenia ngày nay), nhưng cuối cùng lại được phổ biến ở Syria.
"Những người này đã di cư về phía tây bắc Syria, trong khoảng thời gian 2.000 năm. Họ đã dùng ký hiệu Babylon để viết chữ và ghi lại âm nhạc của mình" - Dumbrill nói.
Syria là nơi khai sinh nhiều nhạc cụ độc đáo.
Theo những bản dịch của Dumbrill, người Syria cổ xưa có một danh mục các bài hát cho đủ thời điểm và tâm trạng khác nhau chứ không chỉ dừng lại ở các sự kiện tôn giáo.
Có thể tìm thấy bài hát kể một cô gái bán bia cho khách và cả những câu chuyện sâu sắc hơn. “Một người vợ trẻ cho rằng bản thân đã làm điều gì đó sai trái nên không có con. Vào ban đêm, cô ấy đi cầu nguyện thần Nigal, nữ thần mặt trăng. Cô mang theo đồ dâng lên là một ấm thiếc đựng hạt mè hoặc dầu mè" - Dumbrill nói.
Tuy nhiên, Syria không chỉ là nơi con người sáng tác ra những giai điệu sớm nhất. Theo thời gian, một loạt các loại nhạc cụ phong phú cũng đã được chế tác, chẳng hạn như đàn Lyre nổi tiếng.
Tại Mari, thành phố có trước thời Đồ Đồng trên bờ sông Euphrates (phía đông Syria ngày nay), các nhà khảo cổ đã phát hiện một số ghi chép chi tiết về công việc sản xuất nhạc cụ thời đó.
Dumbrill cho biết: "Trong cung điện ở Mari, chúng tôi đã phát hiện lượng lớn các phiến đá, chủ yếu là thư nói về việc các nghệ nhân đang yêu cầu cung cấp gỗ, da động vật và vàng bạc để làm nhạc cụ". Nhóm khảo cổ của Dumbrill tin rằng các nhạc cụ đã được chế tác khoảng 4.000 năm về trước.
Việc sản xuất nhạc cụ đã tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở Syria qua nhiều thế kỷ. Một số bộ sưu tập đang được bảo quản và mở cửa cho du khách thưởng lãm. 
Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm hiểu về lịch sử âm nhạc lâu đời ở Syria.
Năm ngoái, chính quyền Syria đã nỗ lực vận động để đưa Aleppo vào Mạng lưới thành phố sáng tạo của UNESCO với tư cách là "Thành phố âm nhạc" nhằm tôn vinh di sản nơi đây.
Từ thế kỷ 17, Aleppo đã nổi tiếng với Muwashshah, hình thức âm nhạc kết hợp với lời bài hát từ thơ Andalucia (thơ Ả Rập cổ). Muwashshah được thực hiện bởi một ban nhạc chơi oud và qanun (có âm thanh nghe như tiếng nước chảy), hay kamanja (một nhạc cụ giống như violin), darabukkah (trống).
Từ lâu, Beirut được xem như một vườn ươm cho tài năng sáng tạo của Syria. Nơi đây trở thành một trung tâm bảo tồn di sản âm nhạc của đất nước. 
Theo Trường Đặng/Vnexpress

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

Thành phố cổ Damascus (1979)

(Cinet-DSTG) – Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Thành phố cổ Damascus của Syria là Di sản văn hóa thế giới năm 1979
Thành phố cổ Damascus, Syria
Được thành lập từ khoảng năm 10.000 đến 8.000 trước Công nguyên, Damascus vì thế được công nhận là thành phố lâu đời nhất liên tục có người sống trên thế giới. Thành phố cổ có bức tường thành bao quanh, cả thành phố bao gồm một mê cung của những con hẻm nhỏ, ngắt quãng bởi những cánh cửa bí ẩn dẫn vào các khu vườn xanh tươi hoặc sân nhà trống.
Nằm ở phía Tây Nam của Syria, bên bờ sông Barada, Damascus hiện lên với tất cả vẻ đẹp của một đô thị cổ miền nắng gió, sa mạc. Damascus cũng là thủ đô của Syria. Nhà văn Mark Twain từng ca ngợi Damascus là “thiên đường trên mặt đất”...
Damascus có khí hậu khô, mang tính chất cận hoang mạc. Rộng 573km2 và dân số hơn 4,5 triệu người (ước tính năm 2009), Damascuscó ngôn ngữ chính là tiếng Ả rập; tiếng Kurd, Armenia, Aramaic, Circasia cũng được sử dụng rộng rãi. Đơn vị tiền tệ là đồng Syrian Pound (SYP).
Thành phố Damacus được coi là thành phố lâu đời nhất có người sống liên tục trên thế giới...
Nhiều học giả cho rằng: Cội nguồn của thành phố có thể bắt đầu từ 3.000 năm trước Công nguyên và nó bắt đầu với cái tên Damascus ít nhất từ thế kỉ thứ XV trước Công nguyên.
Trong thế kỷ thứ I sau Công nguyên, thành phố Damascus là trụ sở của giám mục giáo phận. Năm 635, Damascus bị người Hồi giáo chiếm giữ trong một thời gian dài. Năm 1076, Damascus bị người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm. Năm 1154, Damascus rơi vào tay người Ai Cập. Năm 1516, Đế quốc Ottoman cướp lại Damascus từ tay người Ai Cập.
Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ I (1914-1918), quân đội Ottoman và Đức tiến hành các chiến dịch của họ ở kênh đào Suez và đặt căn cứ ở Damascus. Tháng 7 năm 1920, Pháp được Hội đồng Tối cao của Đồng minh ủy quyền cai trị Syria và chiếm Damascus.
Sau khi Đức đánh bại quân Pháp trong Chiến tranh Thế giới thứ II (1940), Chính phủ Vichy của Pháp đã ủng hộ Đức xây dựng ở Damascus một chế độ thực dân thân Đức. Năm 1946, Damascus trở thành thủ đô của Syria độc lập.
Các công trình kiến trúc cổ đại tại Damacus có thể coi là những kiệt tác kiến trúc
Ngày nay, Damascus là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục của Syria.
Điểm nổi bật ở Damascus là nghề thủ công cung cấp các sản phẩm khảm xà cừ, gỗ chạm, gấm tơ tằm, đồ đồng, đồ thủy tinh và đồ gia dụng, hàng dệt. Công nghiệp hiên đại gồm có các ngành chế biến thực phẩm, da, in, đồ gỗ, quần áo và giày dép.
Damascus còn đóng vai trò quan trọng trong việc quá cảnh hàng hóa giữa các thành phố Trung Đông và phân phối các hàng nhập cảng tới các miền khác của đất nước.
Damascus còn là nơi tập trung các cơ sở nghiên cứu khoa học và giáo dục của Syria gồm: Trường Đại học Damascus, Bảo tàng Dân tộc Quốc gia  Damascus, Thư viện Adat...
Damascus còn được gọi là “hòn ngọc của phương Đông” với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng và các công trình kiến trúc tôn giáo uy nghi, tráng lệ với niên đại hàng nghìn năm tuổi. Riêng Thánh đường Hồi giáo Umayyad là thánh đường lớn và sớm nhất, sau thánh đường ở Mecca và Medina. Thánh đường được xây dựng vào đầu thế kỷ thứ VIII và được xem là một trong những kiến trúc tôn giáo đầu tiên của đạo Hồi.
Nhờ những giá trị lịch sử và văn hóa đại diện cho thời kỳ thịnh vượng trong giai đoạn đầu của Hồi giáo nên Damascus đã được Unesco công nhận là di sản thế giới và là thánh địa thứ tư của đạo Hồi.
Thành phố cổ Damascus được Unesco công nhận theo tiêu chí (i),(ii),(iii),(iv),(vi).
Tiêu chí (i): Thành phố cổ Damascus là minh chứng cho thành tự mỹ thuật của nền văn minh mà nó đã tạo ra Nhà thờ Hồi giáo lớn có thể coi là một kiệt tác kiến trúc Umayyad.
Tiêu chí (ii): Thành phố cổ Damascus là thủ đô Hồi giáo có tầm quan trọng then chốt trong sự phát triển của các thành phố Hồi giáo sau này.
Tiêu chí (iii): Qua nhiều cuộc nghiên cứu khảo sát, các nhà khoa học đã có thể chứng minh Damascus là thành phố lâu đời nhất liên tục có người sống trên thế giới
Tiêu chí (iv): Nhà thờ Hồi giáo Umayyad là nhà thờ Hồi giáo lớn nhất thế giới với những ý nghĩa tôn giáo và mỹ thuật vô cùng quan trọng.
Tiêu chí (vi): Thành phố cổ Damascus được gắn kết chặt chẽ với các sự kiện quan trọng trong lịch sử, ý tưởng, truyền thống, đặc biệt từ thời kỳ Hồi giáo.
Những kiến trúc cổ kính tải Damascus
(Ảnh nguồn internet)
NLH

Thành phố cổ Palmyra (1980)

(Cinet-DSTG) – Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Thành phố cổ Palmyra của Syria là Di sản văn hóa thế giới năm 1980.
Thành phố cổ Palmyra tại Syria
Nằm cách thủ đô Damascus 215 km về phía đông bắc, Palmyra từng là một thành phố hội tụ nhiều nền văn minh và đến nay nơi này vẫn được coi là một trong những cái nôi văn hóa của thế giới cổ đại.
Thành phố từng là điểm dừng chân trong suốt một thời gian dài của các đoàn thương nhân trên đường đi qua sa mạc Syria. Palmyra dần khẳng định tầm quan trọng của mình trong vai trò một thành phố nằm trên tuyến đường thương mại nối Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc với Đế chế La Mã. Theo các nhà sử học, thành phố này từng có tên là Tadmor, Tadmur hoặc Tudmur.
.
Palmyra từng là thành phố hội tụ nhiều nền văn minh và cho đến nay vẫn được coi là cái nôi văn hóa của thế giới cổ đại.
Vào khoảng thế kỷ thứ nhất, Palmyra là thành phố giàu có và thịnh vượng nổi tiếng trong toàn khu vực, là tuyến đường liên kết các đoàn lữ hành Ba Tư với các cảng của Địa Trung Hải thuộc Syria – La Mã và Phoenicia. Giai đoạn sau của thời kỳ thịnh vượng, dân Aramaean và dân cư Ả rập của Palmyra buôn bán với cả Parthia ở phía đông và với La Mã ở phía tây.
Khi vương quốc Seleukos nắm quyền kiểm soát Syria năm 323 trước công nguyên, thành phố đã trở thành độc lập. Sự thịnh vượng của thành phố vẫn còn dấu tích cho đến ngày nay với những công trình kiến trúc ấn tượng.
Kiến trúc của thành phố cổ Palmyra là sự kết hợp kỹ thuật Hy Lạp - La Mã với truyền thống địa phương cùng những ảnh hưởng văn hóa của Đế quốc Ba Tư. Mặc dù hầu hết các công trình kiến trúc đó đã không còn nguyên vẹn sau hàng nghìn năm, trải qua bao cuộc chiến tranh và khí hậu khắc nghiệt của sa mạc nhưng những dấu tích còn lại cũng đủ để có thể hình dung là một thành phố, giàu có, thịnh vượng và trang nhã xưa kia. 
Những cột đá cao vô cùng hoành tráng, ấn tượng cùng với những công trình kiến trúc trải qua hàng nghìn với khí hậu khắc nghiệt song vẫn giữ được vẻ tráng lệ...

Ấn tượng và dễ thấy nhất là những dãy cột cao ngất ngưởng nằm trên một con đường dài 1.100 m. Những dãy cột hùng vĩ này có niên đại hơn 2.000 năm tuổi, được Unesco mô tả là một “ví dụ tuyệt vời về một khu phức hợp đô thị cổ”. Bên cạnh đó, không thể không kể đến các ngôi đền Baal và Bel – những công trình kiến trúc tuyệt tác được xây dựng bằng tài hoa của những con người từ hàng nghìn năm trước khi mà kỹ thuật xây dựng còn vô cùng thô sơ. Căn cứ quân sự La Mã Diocletian cùng khung vòm uy nghi ở lối vào con đường chính của thành phố cổ cũng khiến bất kỳ ai từng nhìn thấy đều phải trầm trồ.
Không chỉ có vậy, thành phố cổ Palmyra đặc biệt nổi tiếng với những tác phẩm điêu khắc và tượng vô cùng độc đáo, cùng nhiều công trình vô giá khác. Chính vì lý do này nên Palmyra được người Syria ưu ái đặt cho tên gọi “Hòn ngọc sa mạc”. “Nó khiến thành Rome phải ngượng ngùng. Khi bạn đến gần, nó mọc lên khỏi sa mạc như một phép lạ trong chuyện cổ tích”, nhà khảo cổ Stephennie Mulder, giáo sư nghiên cứu về Trung Đông tại Đại học Texas ở Austin (Mỹ)từng nói với tờ Los Angeles Times về thành phố cổ này với những mỹ từ như vậy. Trong một cuộc trò chuyện với CNN, nhà nghiên cứu lịch sử kiêm tiểu thuyết gia Anh - Tom Holland nhận định Palmyra có “một sự kết hợp phi thường giữa những ảnh hưởng cổ điển và dấu ấn Ba Tư xen lẫn với tính chất Ả Rập. Không chỉ liên quan đến lịch sử Trung Đông, chúng còn là khởi nguồn của văn hóa và văn minh toàn cầu”.
Sở hữu những giá trị vô giá như vậy nhưng di sản văn hóa này đã và đang gặp phải những mối đe dọa lớn kể từ khi Chính phủ Syria để mất kiểm soát với di sản này và nó bị rơi vào tay của quân nổi dậy. Năm 2013, Unesco buộc phải đưa di sản văn hóa thế giới này vào danh sách những di sản có nguy cơ bị đe dọa nhằm tìm sự quan tâm nhiều hơn của cộng đồng thế giới trong việc bảo vệ di sản.
Mặc dù vậy, đầu tháng 9 vừa qua, cả thế giới đã sững sờ khi ba mộ tháp đẹp nhất dại Palmyra được xây dựng sau công nguyên đã bị nhóm Nhà nước Hồi giáo tự sưng IS phá hủy. Ba mộ tháp này gồm Jamblique - được xây năm 83 sau công nguyên; Elhbel - xây năm 103 sau công nguyên và Kithot - xây năm 44 sau công nguyên.Ông Maamoun Abdul Karim - quan chức phụ trách cổ vật của Syria, cho AFP biết đây là những mộ tháp "đẹp nhất và được bảo tồn tốt nhất" của thành phố cổ. Cả ba đã bị IS dùng bom đánh sập. Trước đó, nhóm này đã cho nổ tung hai ngôi đền cổ Bel và Baal Shamin, hành động bị Unesco lên án là tội ác chiến tranh.
Năm 2013, Unesco đã phải đưa di sản văn hóa thế giới này vào danh sách những di sản bị đe dọa khi Chính phủ Syria để mất quyền kiểm soát di sản và nơi này trờ thành điểm tập kết, tàn phá của quân nổi dậy..

(Ảnh nguồn internet)
NLH

Thành phố cổ Bosra (1980)

(Cinet-DSTG) – Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Thành phố cổ Bosra của Syria là Di sản văn hóa thế giới năm 1980.
Thành phố cổ Bosra, Syria
Thành phố cổ Bosra là một thành phố nằm ở phía nam Damascus, đây là một trong những thành phố lâu đời nhất trên thế giới. Thành phố này đã xuất hiện trong các tài liệu Ai Cập từ thế kỷ 14 trước Công nguyên. Đây vốn là thủ đô của đế quốc Ả- Rập. Đến năm 106 thành phố bị người La Mã chinh phục và trở thành thủ đô của đế chế La Mã từ thời kỳ đó. Di sản văn hóa thế giới này cũng đã có một thời gian dài trong lịch sử là địa điểm dừng chân của những người hành hương trên đường đến thánh địa Mecca.
Theo các nhà lịch sử thì thành phố có cư dân cư trú liên tục trong 2.500 năm. Thành phố này không chỉ được tôn vin bởi kiến trúc đẹp được tạo dựng từ cách đây hàng nghìn năm mà thành phố còn là nơi lưu giữ những tàn tích của nền văn minh La Mã và Đạo Hồi. Dù đã trải qua hàng thiên niên kỷ, nhiều công trình kiến trúc có giá trị vẫn được lưu giữ khá nguyên vẹn cho thấy sự vĩ đại của những con người đã tạo nên nó. Tuy nhiên đáng tiếc là thời gian không làm tổn hại đến các công trình kiến trúc này thì chính con người lại tàn phá nó. Trong cuộc nội diễn ra tại Syria, cùng với nhiều thành phố cổ khác, Bosra đã trở thành chiến trường giao tranh giữa Chính phủ và quân nổi dậy. Tiếp theo đó, di sản văn hóa thế giới này lại bị IS chiếm giữ, đánh phá gây tổn hại nghiêm trọng. Trong đó nhiều công trình đã bị phá hủy, những công trình khác hư hại nặng. 
Những công trình kiến trúc còn lại tại thành phố cổ Bosra...

Trong số những công trình kiến trúc tiêu biểu tai Bosra, tiêu biểu nhất phải kể đến là Nhà hát lớn. Với sức chưa lên tới 15.000 người cùng hệ thống âm thanh vẫn rất tốt sau hàng nghìn năm, nhà hát Bosra cho đến nay vẫn là gây ngạc nhiên cho nhiều nghệ sĩ, nhạc sĩ trên thế giới.
Tính tới thời điểm này, Bosra là một trong những nhà hát La Mã được bảo quản tốt nhất trên thế giới. Nhà hát xây dựng theo hình vòng cung, bục sân khấu cao ba tầng, khu vực ghế ngồi cho khán giả có ba mươi lăm bậc, được xây dựng thoai thoải nối tiếp nhau. Hàng nghìn năm trước khi mà âm thanh chưa có những phương tiện công cụ hỗ trợ thì việc tính toán để diễn viên, nghệ sĩ biểu diễn bằng giọng thật có thể truyền được đến tất cả khán giả là việc vô cùng khó khăn. Nhưng càng khó khăn mới lại càng thấy tài năng siêu việt của các kiến trúc sư La Mã. Họ đã tình toán chuẩn xác tới từng chi tiết nhỏ để làm sao chỉ cần dùng giọng thật, không có mất kỳ sự hỗ trợ âm thanh nào mà tiếng hát, giọng nói của diễn viên vẫn vang được tới khán giả ngồi tận hàng cuối cùng. Sự tính toán thông minh và sáng tạo này cùng với kiến trúc độc đáo đã đưa nhà hát Bosra trở thành một trong những nhà hát La Mã tiêu biểu của thế giới. 
Nhà hát Bosra được thiết kế vô cùng đặc biệt để có thể phát tán âm thanh từ sân khấu đến tận những khán giả ngồi hàng ghế cuối cùng. Đến nay, công trình này vẫn khiến nhiều kiến trúc sư phải nể phục và nhiều ca sĩ, nhạc sĩ kinh ngạc..

Nhờ có một pháo đài được xây dựng dưới thời kỳ triều đại Ayyubid bao quanh nhà hát Bosra mà đến nay nhà hát vẫn còn được nguyên vẹn gần như chưa hề bi hư hại. Tuy nhiên, cũng có những luồng thông tin cho rằng nhà hát này hiện được phiến quân IS sử dụng làm địa điểm giết người hàng loạt.
Ngoài nhà hát Bosra, thành phố cổ còn có những công trình kiến trúc mang giá trị mỹ thuật cao đồng thời giá trị lịch sử cũng vô cùng quan trọng như thánh đường Al-Omari .Thánh đường Al-Omari là một trong những nhà thờ Hồi giáo lâu đời nhất trên thế giới còn tồn tại.
Syria hiện có 6 di sản thế giới được công nhận nhưng cả 06 di sản đều được Unesco đưa vào danh sách những di sản thế giới bị đe dọa. 
Có nhiều nguồn tin cho rằng nhà hát Bosra đang được sử dụng làm nơi giết người hàng loạt do bị phiến quân IS chiếm giữ. Nhiều công trình cổ hàng nghìn năm tuổi tại Di sản văn hóa thế giới này cũng đã bị  phá hủy bởi chiến tranh..

(Ảnh nguồn internet)
NLH

Thành phố cổ Aleppo (1986)

(Cinet-DSTG) – Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Thành phố cổ Palmyra của Syria là Di sản văn hóa thế giới năm 1986.
Thành phố cổ Aleppo, Syria
Thành phố Aleppo là thủ phủ của tình Aleppo, tỉnh đông dân nhất tại Syria. Trong suốt nhiều thế kỷ, Aleppo đã là thành phố lớn nhất của Syria và là thành phố lớn thứ ba của đế chế Ottoman, chỉ sau Constantinopolis và Cairo. Mặc dù nằm khá gần thủ đô Damascus, Aleppo lại có bản sắc văn hóa riêng biệt cũng vì thế hình thành một phong cách kiến trúc riêng biệt. Thành phố nằm ở khu vực có độ cao 379 mét so với mực nước biển.
Nằm tại ngã tư của một tuyến đường thương mại từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, Aleppo đã liên tục được cai trị bởi những đế chế hùng mạnh từ Hittites, Assyria, Akkadians, Hy Lạp, La Mã…tới Ottoman. Thành phố này vẫn còn giữ được những kiến trúc mang đậm dấu ấn của thời kỳ vàng son như nhà thời Hồi giáo, các khu phố cổ, nhà tắm công cộng.
Thành phố cổ Aleppo là thành phố lớn nhất của Syria...trải qua hàng trăm năm thành phố vẫn giữ được dáng vẻ cổ kính và những công trình kiến trúc có giá trị lịch sử cũng như mỹ thuật cao.

Trung tâm thành phố Aleppo được chia thành 3 phần chính: phố Mới, phố Cổ và Al-Jdeida- một khu phố dành cho người theo đạo Cơ-đốc. Aleppo cũng tự hào bởi sở hữu những khu chợ Hồi giáo ấn tượng nhất thế giới. Trong vòng 7 thế kỷ trở lại đây, có rất nhiều loại gia vị, xà phòng, lụa, hoa quả khô, thảm, trang sức và ống nước được bày bán tại các khu chợ này.
Tuy nhiên đáng buồn là cuộc chiến ác liệt diễn ra tại Syria không chỉ tàn phá đất nước này mà cũng đang hủy hoại nhiều di sản vô giá tại đây trong đó có Aleppo.
Thành phố cổ Aleppo hiện đã được đưa vào danh mục Những di sản thế giới bị đe dọa bởi nơi này đã trở thành chiến trowngf giữa Chính Phủ Syria với quân nổi dậy từ năm 2012.

Thành phố cổ Aleppo là nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử và văn hóa độc vô cùng gía trị lại trở thành là chiến trường ác liệt giữa quân Chính phủ Syria với phe nổi dậy từ năm 2012. Hậu quả là thánh đường Hồi giáo Umayyad nghìn năm tuổi ở phía bắc thành phố Aleppo, của Syria, đã bị phá hủy trong cuộc đụng độ giữa quân đội chính phủ và phe đối lập. Di tích cổ kính nhất của thánh đường Hồi giáo là tòa tháp có chiều cao 45m được xây dựng vào thế kỷ 11 vốn là di tích khoanh vùng thuộc di sản được Unesco công nhận là di sản thế giới. Không những thế, nhiều di vật quý giá bên trong nhà thờ cũng bị đánh cắp hay cướp bóc, trong đó đáng kể có chiếc hộp được cho là chứa một mớ tóc của nhà tiên tri Muhammad. Việc phá hoại di tích trên đã diễn ra bất chấp ngay từ tháng 10/2012, Tổ chức Unesco đã lên tiếng kêu gọi phải ra sức bảo vệ kiệt tác kiến trúc phương đông này.
Khu phố cổ Salaheddin ở phía Tây Nam thành phố cũng bị tổn hại nặng nề. Khu phố cổ này là tập hợp các tòa nhà cổ từ thế kỷ từ 12 đến 16. Từ trước cuộc nội chiến Syria, khu phố cổ này luôn là một trong những địa danh thu hút nhiều khách du lịch nhất và cũng là một di tích trong quần thể được Unesco công nhận di sản. Sau hàng loạt những cuộc giao tranh ác liệt ở khu vực thành phố cổ, khu chợ ngoài trời cổ xưa nhất thế giới al-Madina đã bị san bằng, kèm theo đó là những sạp hàng cổ xưa cùng với các sản phẩm thủ công địa phương bị cháy rụi hoàn toàn sau một trận độ súng giữa quân chính phủ và phe nổi dậy. 
Thành phố cổ Aleppo nổi bật là các thành phố có các công sự được hình thành từ thế kỷ thứ 12..
Thành phố cổ Aleppo được Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (iii), (iv)
Tiêu chí (iii): Thành phố cổ Aleppo phản án nền văn hóa qua các thời kỳ mà những đế chế hùng mạnh cai trị nó như từ Hittites, Assyria, Akkadians, Hy Lạp, La Mã…tới Ottoman. Những văn hóa này được thể hiện rõ qua kiến trúc của thành phố hay những dấu ấn phong tục tập quán khác.
Tiêu chí (iv): Thành phố cổ Aleppo là ví dụ nổi bật về một thành phố có các công sự được hình thành từ thế kỷ thứ 12. Mặc dù từ trước đó rất lâu thành phố này đã là đia danh sầm uất bởi nó nằm trên con đường giao thương quan trọng. Và những thế kỷ sau đó các công trình vẫn tiếp tục được xây dựng bổ sung nhưng những công trình quan trọng nhất được hình thành vào thế kỷ 12.
Theo nguồn Cinet.vn
NLH

Syria – Pháo đài Crac des Chevaliers và Qal’at Salah El-Din (2006)

(Cinet-DSTG) – Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Pháo đài Crac des Chevaliers và Qal’at Salah El-Din của Syria là Di sản văn hóa thế giới năm 2006.
Pháo đài Crac des Chevaliers và Qal’at Salah El-Din, Syria
Pháo đài là những công trình xây dựng và kiến trúc có tính chất quân sự được thiết kế phục vụ mục đích phòng thủ trong chiến tranh và làm căn cứ quân sự. Con người bắt đầu xây dựng các vào đài từ hàng chục nghìn năm trước, với rất nhiều kiến trúc khác nhau và ngày càng phức tạp hơn.
Pháo đài Crac des Chevaliers tại Syria là một trong những pháo đài được xây dựng từ thời trung cổ và đến nay vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn. Theo tài liệu ghi lại, pháo đài Crac des Chevaliers còn được gọi là lâu đài Crac des Chevaliers được người Kurd xây dựng với mục đích vừa làm nơi ở vừa là nơi phòng thủ. Pháo đài được xây dựng vào thế kỷ thứ 11, cách thành phố Homs khoảng 40 km. Ban đầu công trình này được đặt tên là Hisn al Akrad có nghĩa là Lâu đài của người Kurd. Tên gọi Crac des Chevaliers mãi cho đến thế kỷ 19 mới được đặt. 
Pháo đài Crac des Chevaliers được xây dựng từ thế kỷ thứ 11 nhằm mục đích phòng thủ và làm căn cứ quân sự. Pháo đài nằm nằm trên một ngọn đồi cao, khu vực xung quanh đất đai khá màu mỡ...

Pháo đài nằm trên đỉnh một ngọn đồi có độ cao khoảng 650 mét so với mặt nước biển. Đất đai quanh đây cho đến nay vẫn khá màu mỡ bởi một dòng suối nước rất trong, nhiều khoáng chất chảy qua.
Năm 1142, pháo đài Crac des Chevaliers được bá tước Raymond II của Tripoli tặng lại cho các hiệp sĩ như một món quà. Đến năm 1170, một trận động đất đã phá hủy khu nhà nguyện của lâu đài. Không lâu sau đó, nhà nguyện này được trung tu lại với hiện trạng như ngày nay.
Pháo đài Crac des Chevaliers đóng vai trò như một trung tâm hành chính đồng thời là căn cứ quân sự trong một thời gian dài. Tới năm 1202 một trận động đất nữa xảy ra khiến lâu đài lại bị hư hỏng nặng. Đến thế kỷ thứ 13, pháo đài được trùng tu đầu tư lớn và trở thành lâu đài lớn nhất khu vực như hiện nay. Các bức tường bên ngoài được xây dựng thêm vào giai đoạn này không chỉ mở rộng quy mô lâu đài mà còn mang lại hình dáng kiến trúc mới cho lâu đài. 
Dù đã hàng nghìn năm trôi qua nhưng Pháo đài Crac des Chevaliers vẫn được bảo quản tốt. Nhưng đáng tiếc là thời gian không tàn phá công trình này mà chính con người đã làm việc đó qua những cuộc giao tranh..

Thế kỷ 13 được cho là thời kỳ hoàng kim nhất của Pháo đài Crac des Chevaliers, vào thời điểm này có tới hơn 2.000 binh sĩ đồn trú tại đây. Việc này tiếp tục diễn ra trong những thế kỷ sau đó dù rằng số lượng binh sĩ có giảm dần. Cuối thế kỷ thứ 19 đầu thế kỷ 20, một khu định cư trong lâu đài được tạo ra khiến cho lâu đài xuống cấp nghiêm trọng.
Năm 1933, có lệnh di dời 500 cư dân tại đây để các chuyên gia người Pháp phục dựng, trùng tu lâu đài.. Khi Syria tuyên bố độc lập năm 1946, nước này nắm lấy quyền kiểm soát lâu đài Crac des Chevaliers. Vật liệu chính được sử dụng để xây dựng Crac des Chevaliers là đá vôi và đá ốp lát. Lần lượt các năm 1935, 1955, 1978 nhiều bức tranh tường có niên đại từ thời trung cổ đã dược phát hiện trong lâu đài Crac des Chevaliers. Các bức họa được vẽ trên tường, vốn để trang trí nội thất và ngoại thất của nhà thờ chính và phía bên ngoài nhà nguyện, cổng. Nhà sử học Joroslav Folda cho rằng những bức họa này sẽ cung cấp thông tin về những bộ hài cốt được tìm thấy tại Crac des Chevaliers.
Nhà khảo cổ người Anh - Thomas Edward Lawrence (1888 - 1935) đã nhận xét: “Crac des Chevaliers được bảo quản tốt nhất và đáng ngưỡng mộ nhất trên thế giới. Một lâu đài là chứng nhân của hầu hết các cuộc thập tự chinh của Syria trong lịch sử. Lâu đài được thiết kế rất khoa học, như là một cỗ máy chiến tranh chắc chắn, mạnh mẽ”. Vật liệu xây dựng chính cho Crac des Chevaliers là đá vôi và đá ốp lát.
Năm 2012, cuộc giao tranh giữa quân đội Syria với các lực lượng chống đối đã làm lâu đài bị hưn hỏng nặng. Ngày 18 tháng 8 năm 2013, Crac des Chevaliers tiếp tục bị tàn phá thêm bởi các lực lượng chưa rõ danh tính. Tháng 3 năm 2014, quân đội Syria chiếm lại được lâu đài và làng Al-Husn từ lực lượng quân nổi dậy.
Lâu đài Qal’at Salah El-Din năm trong địa phận của thị trấn Al-Haffiah. Cùng với Crac des Chevaliers, hai lâu đài cổ này được Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới  năm 2006.

Theo nguồn Cinet.vn
NLH