Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Austria. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Austria. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019

Tuyến Đường sắt Semmering

Ngày Nay] - Đường sắt Semmering dài 41 km được xây dựng trên núi cao bắt đầu từ Gloggnitz chạy qua Semmering đến Muzzuschlag là tuyến đường sắt trên núi đầu tiên của thế giới, là một trong những kỳ công lớn nhất của kỹ thuật dân dụng từ giai đoạn tiên phong này của việc xây dựng đường sắt. Điều đặc biệt là tuyến đường sắt này còn chạy qua một địa thế rất khó khăn có độ cao chênh lệch lớn. Cho đến nay đây là tuyến đường sắt đầu tiên của Châu Âu được xây dựng và vẫn còn đang vận hành. Tuyến đường sắt này được xây dựng với mục đích nối giao thông giữa thủ đô Viên với thành phố quan trọng Trieste của đế quốc Áo- Hung.

Tuyến đường sắt này được thiết kế và xây dựng bởi kỹ sư người Ý là Carl Ritter von Ghega, ông đồng thời cũng đảm nhận việc thi công tuyến đường này. Địa hình hiểm trở nhiều khúc cong đã được kiến trúc sư Carl Ritter von Ghega tận dụng để dựng các cầu cạn và đường hầm. Tuyến đường sắt đã được xây dựng trong 6 năm, số nhân công phục vụ cho công trình này là 20.000 công nhân.
Tuyến đường sắt Semmering bắt đầu tại ga Gloggnitz, ở độ cao 436 m, đạt điểm cao nhất sau 29 km vượt qua ở độ cao 895 m so với mực nước biển và kết thúc tại ga Mürzzuschlag, cao hơn 677 m so với mực nước biển.
Tuyến Đường sắt Semmering - ảnh 1
Toàn tuyến có thể chia thành bốn đoạn. Đoạn đầu tiên chạy từ Gloggnitz đến các trạm Payerbach, theo sườn dốc bên trái của thung lũng Schwarza; đoạn tiếp theo băng qua thung lũng bằng cách đưa cầu cạn Schwarza đến ga Eichberg, và đoạn thứ ba đi vào thung lũng Auerbach để tiếp tục băng qua khu rừng rậm rạp đến ga Klamm-Schottwien. Sau khi đi qua Đường hầm Klamm, nó đến Adlitzgraben và địa hình Alps. Sau một loạt các đường hầm và cầu cạn, các đoàn tàu đi qua Weinzettelwand, Krauselklause và Polleroswand, đi qua một số đoạn đường hầm. Đoạn cuối cùng của toàn tuyến ấn tượng nhất với cầu cạn hai tầng uốn lượn đi qua Kalte Rinne, và sau khi đi qua Wolfsberg và Kartnerkogels, đoàn tàu đi qua Đường hầm Semmering 431 m trước khi đến trạm Semmering. Sau đó nó xuống dần dọc theo sườn dốc bên phải của thung lũng Roschnitz, qua Stienhaus và Spital am Semmering, trước khi đến Mürzzuschlag.
Tuyến Đường sắt Semmering - ảnh 2
Tổng cộng có mười bốn đường hầm dài 1.477 m và mười sáu cầu cạn chính cũng có tổng chiều dài 1.477 m. Có 118 cây cầu đá hình vòm nhỏ hơn và 11 cây cầu sắt. Hầu hết các cổng của đường hầm là đơn giản nhưng hoành tráng trong thiết kế, và có nhiều loại trang trí khác nhau. Các cấu trúc hỗ trợ phần lớn bằng đá, nhưng gạch đã được sử dụng cho các vòm của cầu cạn và mặt đường hầm.
Tuyến Đường sắt Semmering - ảnh 3
Vào thời kỳ xây dựng tuyến đường sắt này, thì kỹ thuật áp dụng để xây dựng đường sắt Semmering là tiên tiến nhất. Các kỹ sư đã áp dụng những phương pháp nghiên cứu mới cũng như các dụng cụ hiện đại để xây tuyến đường sắt lịch sử này. Để có thể leo được lên những đoạn dốc cao, người ta đã phải chế ra 1đầu máy kéo hoàn toàn mới có tên gọi là Engerth, tên gọi đầu máy này được lấy theo tên của người phát minh ra nó Wilhelm von Engerth.
Tuyến Đường sắt Semmering - ảnh 4
Toa nhiên liệu đã được đặt ngay trong đầu máy để sức nặng của nhiên liệu và nước đè lên các bánh xe, khiến cho bánh xe bám chắc hơn vào đường sắt. Năm1998, Tổ chức Khoa học, giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công Tuyến đường sắt Semmering của nước Áo là Di sản văn hóa thế giới.

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2019

Nhà 'xiêu vẹo' và những nơi nên ghé thăm khi ở Vienna


Nếu đến thủ đô Vienna (Áo), bạn hãy ghé qua những công trình độc đáo, in đậm dấu ấn lịch sử, văn hóa. Thành phố châu Âu này cũng chính là nơi cầu thủ Văn Hậu sắp đặt chân đến.
Nha 'xieu veo' va nhung noi nen ghe tham khi o Vienna hinh anh 3
Nằm cách trung tâm thành phố Vienna 6 km, lâu đài Schonbrunn thu hút du khách khi sở hữu những khu vườn lớn, hàng cây được cắt tỉa công phu. Lâu đài là nơi nghỉ dưỡng được yêu thích nhất của Hoàng gia Áo vào mùa hè. Năm 1996, nơi đây được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Ảnh: Easyvoyage.
Nha 'xieu veo' va nhung noi nen ghe tham khi o Vienna hinh anh 4
Nhà thờ thánh Stephan là điểm đến không nên bỏ qua khi ghé thăm Vienna. Đến đây, du khách có thể sẽ choáng ngợp trước kiến trúc nguy nga, lộng lẫy. Mái của nhà thờ được trang trí với hơn 200.000 viên gạch men tạo thành hình khảm khổng lồ con đại bàng 2 đầu, biểu tượng của thánh chế La Mã. Ảnh: Sightseeing around the world.
Nha 'xieu veo' va nhung noi nen ghe tham khi o Vienna hinh anh 5
Cung điện hoàng gia Hofburg là nơi ở chính của gia đình hoàng gia Habsburg trong suốt 6 thế kỷ, từ 1276 đến khi triều đại sụp đổ năm 1918. Đến đây, bạn sẽ được nghe buổi biểu diễn dàn hợp xướng thiếu nhi Vienna Boys’ Choir tại nhà thờ hoàng gia. Du khách cũng có thể ngắm nhìn những bộ sưu tập trang sức, vương miện và đồ cổ trong bảo tàng kho báu Schatzkammer. Ảnh: Carabet. 
Nha 'xieu veo' va nhung noi nen ghe tham khi o Vienna hinh anh 6
Nhà hát Opera là biểu tượng của nghệ thuật ở Vienna. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, nhà hát bị phá hủy hoàn toàn và đã được xây dựng lại như một biểu tượng về sự tái thiết của nước Áo. Nếu muốn tìm hiểu lịch sử, văn hóa của đất nước này, bạn hãy đặt chân đến nhà hát Opera Vienna. Ảnh: Meetmeatheopera.
Nha 'xieu veo' va nhung noi nen ghe tham khi o Vienna hinh anh 7
Bảo tàng lịch sử nghệ thuật: Ngoài bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng từ triều đại Habsburg, trong bảo tàng còn lưu trữ hàng loạt công trình nghệ thuật khác của Ai Cập, Hy Lạp và La Mã để khách tham quan chiêm ngưỡng. Ảnh: Wikipedia. 
NHẤN ĐỂ BẬT TIẾNG
Vì sao Vienna mê hoặc khách du lịch đến châu Âu? Thủ đô Vienna (Áo), thành phố đáng sống nhất thế giới, khiến khách du lịch choáng ngợp với nhiều lâu đài, công trình kiến trúc lịch sử nguy nga, tráng lệ.

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2019

Kaffeehaus ở Vienna: Nơi sự vội vã là kẻ thù của cuộc sống

(Du lịch - Thethaovanhoa.vn) - Tuy không phải là nơi ra đời của các Kaffeehaus (tiếng Đức của Coffee house, Áo nói tiếng Đức) nhưng Vienna được thừa nhận rộng rãi là nơi mà khái niệm Coffee house được nâng lên tầm nghệ thuật tinh tế và đẳng cấp nhất thế giới. Phải nhấn mạnh là số 1 thế giới.



Ngay cái tên của nó đã nói với chúng ta nhiều điều. “Nhà cafe” chứ không phải “quán cafe”. Khi nói về ngôi nhà thì bạn hình dung nó như thế nào? Nó là một nơi thân thuộc, ấm cúng, gần gũi mà mỗi chúng ta sống và gắn bó mỗi ngày. Nó là nơi không thể thiếu được với mỗi người.
Chính xác là ở Vienna, người ta coi cái quán cafe như ngôi nhà thứ 2 của mình, coi việc uống cafe hàng ngày giống như người Việt chúng ta ăn cơm, uống nước vậy. Trong suy nghĩ, cảm giác của người dân ở đây thì Kaffeehaus là một không gian sống mà ở đó họ được sống đúng như họ muốn với cảm giác thoải mái, tự do tuyệt đối.
Lịch sử ghi nhận Kaffehaus ở Vienna đã có tuổi đời cỡ trên dưới 300 năm. Năm 2011, UNESCO công nhận Kaffehaus của Vienna là di sản văn hóa phi vật thể. Cho tới thời điểm này (2017), không có bất kỳ thành phố hay thủ đô của nước nào nào trên thế giới mà các Kaffeehaus của nó lại được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể như Vienna. Nói thế để bạn thấy Kaffehaus ở Vienna đặc biệt và đẳng cấp như thế nào.
Kaffeehaus của Vienna là số 1 thế giới về mức độ điển hình của việc biến uống cafe từ hình thức đơn thuần của nó là một món uống như bao món uống khác thành một phong cách sống, một nét văn hóa, biến nơi uống cafe thành một không gian sống, không gian giải trí, thư giãn.
Một dạng “nhà xã hội” hay “nhà công cộng” mang đầy đủ cảm giác gần gũi, ấm cúng, quen thuộc như ngôi nhà truyền thống mà mỗi người sinh hoạt nhưng thậm chí khi bước chân vào kaffeehaus, họ cảm thấy mình còn được đáp ứng nhiều nhu cầu hơn thế.
Vị trí độc nhất vô nhị của kaffeehaus Vienna có được không phải bởi chiều dài lịch sử nó ra đời và tồn tại bởi thậm chí kaffehaus ở Venice (Ý) còn ra đời trước kaffeehaus ở Vienna mà bởi không ở đâu trên thế giới việc uống cafe khiến người ta đạt đến mức độ thỏa mãn, hứng khởi cao nhất, cảm nhận đầy đủ nhất sự thư giãn, thoải mái như khi họ bước vào một kaffehaus tại Vienna.
Ở đây Kaffeehaus thu hút mọi loại đối tượng từ giới trí thức tới nghệ sĩ, từ sinh viên tới người đã đi làm, từ doanh nhân tới các quan chức chính quyền…
Khi một người Vienna bước vào một kaffeehaus nào đó thì không phải họ uống cafe chỉ như một thói quen, không chỉ vì họ thích uống mà chính xác là họ vào đó để… sống và tận hưởng cuộc sống, để tiêu thụ thời gian và sử dụng không gian như một nhu cầu ưa thích, quen thuộc đến mức không thể thiếu được như cơm ăn nước uống hàng ngày của chúng ta vậy nhưng thứ duy nhất họ phải trả tiền là cafe (phổ biến từ 2- 4 euro cho một tách cafe).
Trên các bàn uống thường có menu liệt kê danh sách các loại cafe để bạn chọn. Nếu không có trên bàn thì nhân viên sẽ mang tới. Bạn phải order một loại cafe với vị cụ thể nào đó được giới thiệu thay vì nói chung chung kiểu “xin cho tôi một tách cappuccino/espresso sữa nóng/đá” sau khi bạn order thì nhân viên sẽ mang kèm theo một cốc nước có để một thìa bạc ở trên và tất cả để trong một khay bạc nhỏ.
Các kaffeehaus ở Vienna là nơi mà sự tự do và riêng tư của bạn được tôn trọng tuyệt đối. Chỉ cần gọi một tách cafe là bạn có thể ngồi bao lâu tùy thích (cho tới khi quán đóng cửa).
Không ai làm phiền bạn. Không ai đến nhắc hay hỏi bạn có gọi thêm gì nữa không. Các kaffeehaus có phục vụ đọc báo miễn phí (cả báo địa phương lẫn báo thế giới) cho mọi người.
Ở đây người ta coi sự vội vã là kẻ thù của cuộc sống. Mọi cái diễn ra và trôi qua chầm chậm. Mọi người vào đây để vừa nhâm nhi cafe, vừa đọc báo. Để gặp gỡ, trò chuyện với bạn bè. Để chia sẻ muôn vàn vấn đề của cuộc đời.
Với giới nghệ sĩ, kaffeehaus có thể trở thành nơi khơi gợi cảm hứng sáng tạo như lịch sử từng ghi nhận rằng từ mấy trăm năm trước những nhạc sĩ thiên tài như Schubert, Mozart hay Beethoven từng lui tới các kaffeehaus ở Vienna và từ đây họ đã tìm thấy cảm hứng để sáng tác ra những nhạc phẩm kinh điển, sống mãi với thời gian.
Lại cũng có người chỉ vào kaffeehaus ngồi lặng lẽ, vừa thưởng thức cafe, vừa ngắm nhìn dòng đời chảy trôi. Bước vào các kaffeehaus của Vienna bạn có thể thấy ở đó một xã hội thu nhỏ và dù bạn làm gì thì bạn cũng không bao giờ bị làm phiền.
Tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, trình độ, mục đích của những người bước chân vào đây có thể khác nhau nhưng tất cả họ đều giống nhau ở một điểm. Họ vào đó để sống cuộc sống mà họ chọn, làm việc họ thích trong một không gian mang đến cho họ cảm giác thư giãn tối đa.

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

Gottingen – thành phố tri thức và tình yêu

Gottingen

Tôi dừng chân nơi một quán cà phê trên con đường mang tên Goeth. Cái quán này thuở xưa hẳn Goeth và bạn bè thường tụ hội. Bên kia đường là ngôi nhà Goeth đã ở. Sau cửa sổ căn phòng ấy hẳn ông thường ngồi nhìn trời, mộng mơ – những tâm hồn như thế không thể quay lưng trấp mặt với những gì cao rộng.
Gottingen có khoảng 100.000 dân, trong đó 1/3 dân số thành phố là sinh viên. Tôi đến thăm Gottingen dịp cuối tuần, thành phố rộn ràng những công dân trẻ trung, phơi phới, đẹp như người mẫu, với đủ thứ màu da: trắng, đen, nâu, vàng. Tôi thầm hỏi, không biết ai trong số họ rồi đây sẽ là những nhà khoa học, nhà thơ, nhà doanh nghiệp, thủ tướng, bộ trưởng…
Một thiếu phụ trẻ măng đẩy chiếc xe bên trong có em bé kháu khỉnh mà theo tôi rất có thể là bằng chứng của một cuộc tình thơ dại. Người ta nói, những đứa trẻ sinh ra từ tình yêu và tuổi thanh xuân lớn lên sẽ thông minh sáng láng với tâm hồn cao đẹp. Tôi tin thế. Và tôi bỗng vẫy tay chào nhân cách tí hon đang ngo ngoe trong chiếc xe đẩy kia.

Bức Tượng đài Liesel - biểu tượng của Gottingen
Bức Tượng đài Liesel – biểu tượng của Gottingen

Ôi đôi mắt của cháu mới đẹp làm sao. Hẳn là từ trong bụng mẹ, cháu đã được nghe những lời hay ý đẹp từ trên giảng đường. Mong sao sự nghèo khổ và bom đạn đừng bao giờ đến với cháu. Mong sao lớn lên cháu được sống trong âm nhạc, tình yêu và hòa bình. Và cả bà mẹ trẻ kia nữa, tôi cũng cầu cho cô và tình yêu của cô xanh mãi cây đời.
Tôi chụp nhiều ảnh dưới tượng đài cô gái Liesel – biểu tượng của thành phố. Chuyện kể rằng, hồi ấy có chàng sinh viên quý tộc yêu cô gái nghèo chăn ngỗng. Họ không lấy được nhau chỉ vì họ khác giai tầng. Câu chuyện tình buồn ấy là nỗi đau đối với Gottingen. Rồi người ta cho dựng tượng nàng ở quảng trường trung tâm thành phố. Đó là một cô gái trẻ, dịu dàng, thơ ngây, tay ôm bó hoa, tay xách con ngỗng, miệng như muốn nói điều gì…
Theo tục lệ của Gottingen, sau khi bảo vệ thành công luận án, các tân tiến sĩ đến quảng trường, leo lên đài nước, nghiêng mình hôn lên má cô gái. Không nghi ngờ gì nữa, cô gái là nhân vật được hôn nhiều nhất thế giới. Có phải đó là nụ hôn muộn màng, hối tiếc hay là một lời nguyện ước. Rằng mọi đỉnh cao trí tuệ, mọi học hàm học vị chẳng có ý nghĩa gì nếu như không góp phần kiến tạo nên một thế giới mà những người yêu nhau không hề bị bất cứ ai chia lìa họ.
Gottingen
Gottingen có nhiều quán sách, nhiều hàng hoa. Hèn chi thành phố lúc nào cũng phảng phất cái mùi của tri thức và tình yêu. Bên kia đường, một chàng trai trẻ ôm bó hoa trên tay. Nhìn nét mặt ngời ngời của cu cậu chắc không đi dự sinh nhật bạn gái thì cũng đến điểm hẹn.
Chao ôi, những đóa hồng tươi thắm thế cần gì phải nói lời tỏ tình. Mong sao, những đóa hoa kia dù có héo tàn đi trong đôi ba ngày nhưng tình yêu của họ thì mãi mãi bền lâu cho đến mai sau. Đi trên đường phố Gottingen, người ta chỉ muốn nghĩ những điều tốt lành, nói những lời tốt lành, làm những việc tốt lành.
Các buổi hòa nhạc được tổ chức thường xuyên và khắp nơi trong thành phố. Nhưng sự kiện âm nhạc vang dội nhất của Gottingen là Festival Handel được tổ chức dịp đầu hè, đủ mặt anh tài âm nhạc khắp nơi về dự. Gottingen là thành phố vui sống, không hề có chỗ cho những nỗi buồn.
Quảng trường trung tâm đủ rộng cho những trái tim cuồng nhiệt, nếu bạn không muốn đi xa một chút ra vùng ngoại ô tham gia các trò chơi thể thao như chèo thuyền, cỡi ngựa… hay thơ thẩn ven hồ Seeburg nổi tiếng có tuổi đời 2.500 năm.
Gottingen
Buổi tối lang thang qua các đường phố Gottingen là một hạnh phúc. Rất dễ có cảm giác có một nhân loại thu nhỏ đang dạo chơi ở đây. Chỉ mấy vị “nhân loại con” là được nằm xe, miệng cười tươi như hoa còn đôi mắt thì ngời theo bố mẹ. Ôi, mưa ở Gottingen cũng giống như mưa ở Baghdad, những bông hồng ở Gottingen cũng giống như những bông hồng ở Baghdad, cớ sao trẻ em ở Baghdad không được như trẻ em ở Gottingen!
Là “Thành phố Đại học”, là “Cái nôi của tri thức”, không biết sinh mệnh của Gottingen được định đoạt từ bàn tay của số phận hay từ sự tính toán của một đầu óc lỗi lạc? Thời ấy, các thành phố trong vùng tranh nhau những công trình vừa được quy hoạch. Kassel nhanh tay giành phần béo bở: xây dựng ngành tư pháp, kinh tế. Không lâu sau, Kassel trở thành thành phố công nghiệp, hiện đại với đầy rẫy tội phạm và các vấn đề xã hội.
Trong lúc Gottingen, không ngờ định mệnh mỉm cười với chữ nghĩa, trở thành thành phố đại học, cái nôi của tri thức, niềm kiêu hãnh của nước Đức, chốn bồng lai tiên cảnh giữa cõi trần. Âu đây cũng là bài học cho nhân loại bất cứ thời đại nào: không được coi thường giá trị tri thức.
Ai từng đến với Gottingen hẳn mong có ngày trở lại. Hôm chia tay, tôi cũng hẹn với Gottingen sẽ trở lại. Gottingen là một trong ít thành phố đã để lại trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất trên những con đường tôi đã đi qua. Và thú thật, mỗi lần nghĩ về nó, tôi hay liên tưởng đến thành phố Huế thương yêu của tôi, rồi thầm mơ, ước chi… ước chi…

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2019

Lịch sử 200 năm của bài “Đêm thánh vô cùng” trứ danh mỗi mùa Giáng sinh

Phương Linh 

"Silent Night" (Đêm yên bình) hay được dịch sang tiếng Việt: “Đêm thánh vô cùng” là một trong những ca khúc mừng Giáng sinh ngọt ngào và được yêu thích nhất. Vậy bạn có tò mò về nơi sáng tác bài hát trứ danh này không? Hãy đến thăm nhà nguyện “Silent Night”, nơi an nghỉ cuối cùng của tác giả bài hát nổi tiếng từ 200 năm trước đây, mục sư Josef Mohr, tại một thị trấn nhỏ có tên Oberndorf bei Salzburg ở nước Áo.


Silent Night, với tên gọi gốc “Stille Nacht” đã được dịch ra thành nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Chuyến thăm nhà nguyện“Đêm yên tĩnh” này thực sự là một trải nghiệm mới mẻ.
Đồ trang trí bên trong nhà nguyện khá đơn giản với sàn nhà bằng đá cẩm thạch đỏ hồng được trưng dụng từ mỏ đá gần đó. Hai cửa kính màu nhỏ với hình ảnh của Mohr, người đã viết lời bài hát “silent night” và Franz Xaver Gruber, người đã phổ nhạc cho bài hát này. Hai bức chân dung của hai tác giả đã tô điểm cho bức tường trong nhà thờ.

Ngay tại đây, khách tham quan cũng có thể nhìn thấy 6 bản copy bài hát nổi tiếng một cách đầy đủ nhất được viết qua 6 khổ thơ (thông thường mọi người chỉ quen thuộc với 3 khổ trong ca từ của bài hát). Người hướng dẫn viên cho biết: “Chúng ta thường chỉ hát khổ một, hai và sáu. Các khổ ba, bốn, năm rất khó hát bằng tiếng Đức”.
Nhà nguyện, cũng giản đơn như bài hát, được xây dựng để thay thế nhà thờ giáo xứ St Nicholas, nơi mục sư Mohr đã từng phục vụ, nơi bài hát được trình diễn lần đầu tiên cách đây đúng 200 năm, trong dịp lễ Giáng sinh 1818.
Để giải thích lý do tại sao nhà thờ đã từng bị phá hủy, hướng dẫn viên Greimel đã dẫn các vị khách tham quan theo lối đi bên ngoài.
Bị chia cắt bởi chiến tranh và lũ lụt
Những bông tuyết đang rơi lặng lẽ tại trung tâm Oberndorf, nơi đã phủ đầy bụi tuyết. Khung cảnh thật tuyệt vời. Không có gì ngạc nhiên lúc này nếu bất ngờ trông thấy ông già Santa Claus rơi xuống trong chiếc xe trượt tuyết.
Từ vị trí cao nhất ở con đê gần đó, người ta có thể trông thấy dòng sông Salzach tạo thành một khúc cua chữ U lớn, chỉ cách nhà nguyện vài trăm thước. Không chỉ có cảnh đẹp này, thị trấn Laufen đẹp như một bức tranh nằm ở phía biên giới Đức cũng được hiện ra…
Nhưng không phải lúc nào cũng vậy.
Oberndorf, cùng với Laufen, từng thuộc về hội đồng giám mục Salzburg trong nhiều thế kỉ cho tới khi cuộc chiến tranh Napoleon đầu thể kỉ 19 nổ ra. Những thay đổi về lãnh thổ biên giới đã phân chia hai nơi này giữa nước Áo và Đức.
Oberndorf và Laufen đã từng phát triển thịnh vượng việc kinh doanh muối trên sông, đặc biệt là khi xuất hiện tảng đá lăn lớn (do địa lý), được gọi là Nocken ở một khúc quanh đã buộc các sà lan phải dừng lại ở đây, dỡ và đóng gói hàng.
Greimel cho biết: Đã có một trận lụt khủng khiếp ở đây vào năm 1899.Trận lụt này đã phá hủy trung tâm Oberndorf cũ.
Sau này, dân làng đã quyết định xây dựng một nhà thờ mới cách đó khoảng 550 mét về phía Nam trên vùng đất cao hơn….

Sông Salzach: Nhà thờ ban đầu ở Salzburg bị hư hại do lũ lụt từ sông Salzach thuộc nước Đức và thị trấn lân cận Laufen.
Khởi đầu nhờ sự cứu vớt của người đao phủ
Theo lời kể lại của chuyên gia lịch sử địa phương Michaela Muhr, giám mục Mohr được sinh ra vào năm 1792 tại thành phố Sazburg, con trai một thợ may và một lính ngự lâm quân đội. Mohr là đứa trẻ được sinh ngoài giá thú.
Một trong những ngôi nhà đầu tiên ông sống là nhà số 31 Steingasse, thuộc khu vực nghèo nhất trong thị trấn. Ngôi nhà nằm trên tầng hai và được dẫn lên bằng những bậc thang đơn giản.

Steingasse là con đường lát đá cuội, chiều rộng của đường vừa vặn cho chiếc xe ngựa đi ngang. Các tòa nhà mọc cao hai bên đường, luôn ở trong bóng râm, trừ vào lúc chính ngọ khi mặt trời tỏa bóng ngay ở phía trên.
Muhr kể tiếp: Vì sinh ra trong hoàn cảnh ngoài giá thú, cậu bé Mohr rất khó tìm được cha mẹ đỡ đầu để rửa tội, nhưng cuối cùng cũng có một đao phủ trong thị trấn đồng ý trở thành cha mẹ đỡ đầu cho Mohr để bù đắp những “nghiệp” không thể tránh được trong công việc của anh ta (là một đao phủ nên công việc của anh ta là phải hành quyết các tử tù).
Sau cùng, Mohr cũng được rửa tội trong cùng một bình nước thánh với thiên tài Mozart. Dần dần, Mohr lớn lên, thành một đứa trẻ thông minh, được học hành trong giáo đường nhà thờ và sau này trở này giám mục.
Bảo tàng Oberndorf , tại vị trí nhà của cha xứ lúc đó, đối diện với nhà nguyện Silent Night vẫn viết tiếp câu chuyện này với các cuộc triển lãm tập trung vào chủ đề đêm Giáng sinh 1818.

Chân dung Josef Mohr và Franz Xaver Gruber (được vẽ tay đang cầm một cây guitar) trong bức chân dung ở nhà nguyện.
Nghệ sĩ chơi đàn organ Franz Xaver Gruber, giáo viên dạy nhạc chỉ lớn hơn Mohr 5 tuổi, làm việc tại làng Arnsdorf cách đó ba dặm về phía Bắc.
Khi nước lũ từ Salzach tràn vào Oberndorf, bao gồm cả nhà thờ St. Nicholas, nước lũ đã phá hủy và làm hỏng nhiều thứ, trong đó có cây đàn trong nhà thờ, buộc cây đàn cần phải chỉnh âm lại.

Mohr được rửa tội chung bình nước thánh với nhạc sĩ Mozart nổi tiếng
Ngay lúc này, nhà thờ cần có một dụng cụ âm nhạc khác thay thế. Mohr đã phải chọn một bài thơ ông ấy từng viết và hỏi Gruber liệu có thể phổ nhạc từ cây guitar cho bài thơ của ông hay không. Gruber đã viết xong nhạc cho tác phẩm ngay trong một buổi chiều…
Tối hôm đó, Mohr hát tenor (giọng hát nam cao nhạc cổ điển) và chơi guitar, Gruber hát giọng bass (giọng nam trầm, âm vực thấp) trong đoạn điệp khúc của Silent Night. Vì guitar không phải là loại nhạc cụ được chấp thuận trong nhà thờ, họ đã buộc phải biểu diễn bài hát sau thánh lễ.

Nhà nguyện Silent Night, được xây dựng lại để kỉ niệm bài hát nổi tiếng cùng tên
Silent Night  với giai điệu buồn bã nhưng lại mang thông điệp đầy hy vọng, là tiếng ca cộng đồng của những người làm việc trên xà lan thời đó, là nỗi đau trong sự tàn phá của cuộc chiến Napoleon, cuộc chia rẽ đau khổ với thị trấn Laufen lân cận.
Việc buôn bán muối cũng đã suy giảm, ngay cả Nocken, tảng đá khổng lồ cũng đã bị chính quyền thành phố Salzburg kích động xóa bỏ.
Những gì còn lại…
Nhưng làm thế nào một ngôi làng “bị che khuất” lại có thể chinh phục thế giới?
Enter Karl Mauracher, nghệ sĩ chỉnh âm piano đã đến Oberndorf  vào đúng dịp năm mới. Anh được nghe bài hát và mang bản nhạc về thị trấn của mình là Fugen thuộc Tyrol.
Người Tyrol có truyền thống hợp xướng lâu đời, họ kiếm tiền bằng cách lang thang khắp thị trấn nước Đức và hát hợp xướng trong những tháng mùa đông cằn cỗi.

Hai nhóm nhạc địa phương, The Strasser và The Rainer đã được nghe “Silent Night” và đưa bài hát vào trong tiết mục của họ. Trước đó, Silent Night đã được biết biết đến rộng rãi ở Đức, sau đó là ở châu Âu từ năm 1839, khi gia đình nhà The Rainer đã vượt qua Đại Tây Dương đến Hoa kỳ.
Năm 1854, một đoàn nhạc kịch đã viết thư đến Salzburg để hỏi ai là người đã sáng tác bài hát này. Gruber trả lời bức thư, nói rằng chính ông đã viết giai điệu cho bài hát, còn Mohr là người viết lời.
Vào những năm 1920, Silent Night nổi tiếng đến mức một nhà nguyện đã được xây lại tại đúng nơi mà trước đó cósự hiện diện của nhà thờ St Nicholas.
Dù Gruber đã được vẽ chân dung trong suốt cuộc đời khá thành công của mình thì Mohr lại không để lại bất kỳ hình ảnh nào.
Một nhà điêu khắc, Josef Muehlbacher đã lấy hộp sọ của Mohr từ ngôi mộ của ông ở làng Wagrein để tạo ra một bức điêu khắc giống hệt với Mohr. Vì thế, tất cả những bức chân dung, bức vẽ chúng ta có về Mohr, bao gồm cả những bức chân dung trong nhà nguyện Silent Night đều là những tưởng tượng của nhà điêu khắc Muehlbacher về vị linh mục này từ hộp sọ được khai quật.

Mohr được chôn cất tại thị trấn Wagrein, giáo sứ cuối cùng của ông với tư cách là giáo sĩ. Hộp sọ của Mohr đã được lấy ra từ đây để tạo ra những hình ảnh chân thực nhất về ông.
Vì bất cứ lý do gì, hộp sọ của Mohr đã không được đưa về lại Wagrein, mà được để lại đằng sau hình ảnh chúa Giáng sinh trong nhà nguyện Silent Night. Trớ trêu thay, nhiều người đã tiếc thương  và cho rằng những gì còn lại của Mohr đã không được ngủ yên trên thiên đường…

Phương Linh

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

Cung điện và Vườn Schönbrunn

Cung điện Schönbrunn hay còn gọi là Cung điện mùa hè do kiến trúc sư Johann Bernhard Fischer von Erlach nối tiếng xây dựng, là một trong các cung điện quan trọng nhất về văn hóa ở Áo.
Cung điện và Vườn Schönbrunn - Hình 1
Thành phố như bức tranh nghệ thuật ở Yemen. Làng lịch sử Shirakawa-go và Gokayama. Nhà thờ chính tòa Aachen
Cung điện được xây dựng theo kiến trúc Baroque và là nơi nghỉ ngơi vào mùa hè của hoàng gia Áo. Từ thế kỷ 18 đến 1918, Schönbrunn là nơi ở của các hoàng đế Habsburg. Vào thế kỷ thứ 19, cung điện là nơi ở của Hoàng đế Franz Josefl I cùng với vợ của ông, Nữ hoàng Elizabeth của xứ Bavaria. Nữ hoàng Elizabeth được người dân trên thế giới biết đến nhiều với tên gọi Hoàng hậu Sissi.
Cung điện và Vườn Schönbrunn - Hình 2
Cung điện Schonbrunn gồm 1.441 phòng được xây dựng từ 1696 đến 1730 và vườn hoa vô cùng lớn với những kiến trúc tuyệt đẹp. Mặc dù rộng lớn như vậy nhưng cung điện không có một nhà bếp nào. Tất cả việc nấu nướng phục vụ hoàng gia đều được thực hiện ở một tòa nhà khác và thức ăn được đưa vào cung điện hàng ngày. Hiện nay có 40 phòng được mở cửa cho khách tham quan.
Cung điện và Vườn Schönbrunn - Hình 3
Cung điện Schonbrunn còn có hai vườn hoa vô cùng ấn tượng. Một vườn hoa được xây dựng theo lối Pháp và một vườn hoa được xây dựng theo phong cách của Anh. Ngoài ra trong khuôn viên cung điện còn có một vườn thú xưa cũ nhất thế giới (vườn thú đầu tiên vào năm 1752) còn tồn tại cho đến nay, 1 chuồng ngựa và 10 nhà kính để trồng cây. Vườn thú là nơi sinh sống của hơn 750 loài, đa dạng như gấu trúc khổng lồ, đười ươi, hổ Siberi, voi châu Phi, cheetahs, gấu túi, chim cánh cụt và chó sói Bắc cực.
Cung điện và Vườn Schönbrunn - Hình 4
Toàn bộ cung điện Schonbrunn được bao quanh bởi vườn hoa rộng mênh mông. Vườn hoa phía sau lưng cung điện được xây dựng theo phong cách Pháp với tên gọi Great Parterre trồng các loại hoa rực rỡ theo mùa. Ngoài cùng luôn là hai loại hoa màu đỏ và trắng tượng trưng cho quốc kỳ Áo với hai màu sọc đỏ và trắng. Hai bên vườn có 32 bức tượng điều khắc được bố trí, sắp đặt rất đẹp mắt. Ở khoảng giữa vườn hoa có một hồ phun nước với hệ thống vòi phun và hồ nước được thả đầy hoa súng.
Cung điện và Vườn Schönbrunn - Hình 5
Trên khu đồi cạnh vườn Great Parterre, kiến trúc sư Fischer đã cho xây dựng khu tiểu đình Gloriette. Đứng từ khu tiểu đình này có thể thấy được toàn cảnh thành phố Vienna của nước Áo.
Cung điện và Vườn Schönbrunn - Hình 6
Ngày nay Schönbrunn trở thành điểm du lịch nổi tiếng bậc nhất của Áo nói riêng và châu Âu nói chung, cũng là nơi tổ chức các sự kiện văn hoá quan trọng của người dân Vienna. Trung bình hàng năm có 8 triệu lượt khách đến thăm quan.
Năm 1996, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Cung điện và vườn Schönbrunn là Di sản văn hóa thế giới.
Theo ngaynay.vn