Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Uganda. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Uganda. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2017

Đến Uganda khám phá động vật hoang dã hấp dẫn nhất thế giới

Hướng đến sự khám phá thiên nhiên, trực tiếp gần gũi với môi trường sống của động vật hoang dã, đó chính là điểm khiến du lịch Uganda thu hút du khách nhất khu vực Châu Phi.
Với những khu bảo tồn thiên nhiên hoang dã rộng lớn, vô vàn vườn Quốc gia có phong cảnh tuyệt đẹp cùng không khí yên bình, những điểm tham quan hấp dẫn tại Uganda này đã khiến nơi đây trở thành điểm đến cho du khách khám phá động vật hoang dã hấp dẫn nhất Châu Phi.
Khám phá thế giới hoang dã
Tiếp đến là Vườn Quốc gia Thung lũng Kidepo thuộc khu vực hẻo lánh nhất miền Đông Bắc. Đây không chỉ là một khu thu hút rất nhiều du khách đến tham quan khi đến Uganda mà địa điểm này còn nằm trong danh sách những khu bảo tồn thiên nhiên hoang dã đẹp nhất của châu Phi.

Trung tâm của công viên quốc gia Kidepo có một khó khăn trong quá khứ. Chiến tranh bộ lạc trong 1980 và những năm 90 động vật hoang dã đã di cư rất nhiều, nhưng khu vực này hiện tại đang tăng trở lại nhờ các loài động vật hoang dã bắt đầu phát triển mạnh.
Các công viên có gần 500 loài chim và 77 loài động vật có vú khác nhau. Động vật hoang dã chủ yếu tập trung ở khu vực hồ nước, đầm lầy với nhiều loại khác nhau như ngựa vằn, trâu rừng, linh dương đầu bò, voi, hươu cao cổ…
Bên cạnh thung lũng Kidepo, bạn cũng nên ghé qua khu bảo tồn tinh tinh trên đảo Ngamba. Đến đây, du khách sẽ được tìm hiểu cuộc sống tự nhiên của các loài tinh tinh hoang dã và đặc biệt còn được trải nghiệm cảm giảm chăm sóc các chú tinh tinh con quý hiếm.
Vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã
Đến Uganda không thể không khám phá Công viên Quốc gia Queen Elizabeth – khu bảo tồn thiên nhiên với hơn 600 loài chim; nơi sinh sống như voi, linh dương, trâu rừng, ngựa vằn,….
Vườn quốc gia Semliki là điểm đến lí tưởng bởi đây là nơi có lợi thế thiên nhiên ban tặng có khí hậu ôn hòa, cây cối xanh tốt, đồng thời chứa những khu rừng có lịch sử lâu đời và hệ thống sinh vật học đa dạng. Vườn Semliki có rất nhiều loài chim cùng động vật sinh sống như báo, sư tử, linh dương, nai rừng…
Du khách cũng không thể không đến vườn Quốc gia núi Elgon để được trải nghiệm đi bộ thám hiểm trên những con đường mòn lên núi để chiêm ngưỡng phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp cùng hệ thống động thực vật phong phú. Đây còn là nơi sinh sống của hơn 300 loại chim cùng nhiều loại động vật hoang dã như trâu rừng, khỉ, linh dương…
Công viên Quốc gia Hồ Mburo cũng là một trong những điểm đến đem lại cho du khách bức tranh thiên nhiên với nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm như cá sấu, hà mã, linh dương châu Phi khổng lồ,… Công viên nằm giữa các thị trấn của Masaka và Mbarara.
Theo Hiền Phạm/GD&TĐ

Thứ Hai, 31 tháng 7, 2017

Những vệ binh cuối cùng của linh hồn trăn

(NLĐO) - Gần khu rừng tâm linh trên một hòn đảo nhỏ nằm giữa Hồ Victoria – Uganda, hiện diện những vệ binh cuối cùng của linh hồn có hình dạng là một con trăn.

Truyền thuyết kể lại rằng hàng trăm năm trước, quần đảo Ssese – Uganda là nơi sinh sống của bộ tộc Abassese – một chủng tộc không chỉ sở hữu tầm vóc và sức mạnh ấn tượng mà còn có khả năng gắn kết với thế giới siêu nhiên. 
Bộ tộc Abassese tôn thờ Mbirimu – một linh hồn được cho là có thể hóa thành con người hoặc động vật. Một ngày nọ, theo truyền thuyết, Mbirimu cảm thấy cô đơn nên ông ta đã hóa thành một người phụ nữ rồi sinh ra một con trăn và một con người. 
Hai anh em trăn và người sống trên đảo Bugala, hòn đảo lớn nhất trong số 84 đảo của quần đảo Ssese và con trăn lấy tên là Luwala. Người anh em song sinh sau đó xây dựng cho Luwala một ngôi đền và người tộc Abassese bắt đầu thờ cúng, xin ông lời khuyên.
Những vệ binh cuối cùng của linh hồn trăn - Ảnh 1.
Truyền thuyết kể lại rằng quần đảo Ssese từng là nơi sinh sống của bộ tộc Abassese - một chủng tộc có khả năng gắn kết với thế giới siêu nhiên. Ảnh: BBC
Danh tiếng Luwala vang khắp vùng và ngày càng có nhiều người không quản xa xôi đến nhờ ông giúp đỡ. Ông chính là thầy của những thầy lang truyền thống vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay. 
Những thầy lang này được gọi là emandwa, có nghĩa là "thầy lang với một linh hồn ngự trên đầu". Theo quan niệm, emandwa là người được tổ tiên lẫn Luwala lựa chọn và là người duy nhất có khả năng trò chuyện với Luwala, qua đó được ông chỉ bảo. Đổi lại, emandwa phải thờ phụng Luwala suốt đời. Khi emandwa qua đời, một người khác sẽ được lựa chọn thay thế.
Những vệ binh cuối cùng của linh hồn trăn - Ảnh 2.
Đảo Bugala, thuộc quần đảo Ssese, là quê hương của linh hồn Luwala. Ảnh: BBC
Bị cuốn hút bởi truyền thuyết này, phóng viên Amy Gigi Alexander của BBC đã quyết định đến đảo Bugala để tìm kiếm emandwa. 
Theo cô Amy, việc tìm kiếm emandwa không khó nhưng hầu hết du khách đều không được phép. Cô Amy cho biết phải nhận được sự đồng ý của già làng mới được gặp emandwa. Cũng theo cô Amy, emandwa ăn mặc không khác người dân trên đảo: quần dài, áo thun và giày ống. "Lubala Simon" – emandwa tự giới thiệu tên. "Bạn đang ở quê hương của Luwala. Đây là nơi linh hồn ông ta sinh sống" – ông Lubala Simon tiếp tục. 
Không khí xung quanh, theo cô Amy mô tả, cũng không quá khác biệt so với những ngôi làng khác. Một ngọn lửa được đốt bên cạnh túp lều lớn cùng không khí yên lặng khiến người ta có cảm giác như đang ở một nơi linh thiêng, đặc biệt.
Những vệ binh cuối cùng của linh hồn trăn - Ảnh 3.
Thầy lang emandwa, ông Lubala Simon, được tin là có khả năng trò chuyện với linh hồn Luwala. Ảnh: BBC
"Khi muốn trò chuyện với tôi, linh hồn Luwala ngự trên đầu tôi và giao tiếp với tôi thông qua cơ thể tôi" – ông Lubala Simon khẳng định. Nhiều giai thoại ly kỳ về thầy lang emandwa – người được tin là có khả năng trò chuyện với linh hồn Luwala, khiến họ trở thành những người được nhắc đến nhiều trong lịch sử Trung Phi và Đông Phi. 
Theo một giai thoại, một trong những bộ tộc lớn nhất từng sống tại Uganda – tộc Buganda, đã nhờ emandwa giúp đỡ trong cuộc chiến chống lại bộ tộc Banyoro. Emandwa đã trao cho tộc Buganda một cây gậy đặc biệt, được gọi là Damula. Nhờ đó, bộ tộc Buganda đã giành chiến thắng. 
Gậy Damula hiện vẫn là báu vật được các vị vua Buganda truyền lại cho nhau. Truyền thuyết kể rằng gậy Damula được làm từ một cây linh thiêng trong khu rừng nguyên sinh trên đảo Bugala – rừng Buswa.
Những vệ binh cuối cùng của linh hồn trăn - Ảnh 4.
Khu rừng linh thiêng Buswa trên đảo Bugala được canh giữ nghiêm ngặt. Ảnh: BBC
Được ông Lubala Simon và một nhóm người làng dẫn đường, cô Amy đã tìm đến được cây linh thiêng. Ông Lubala Simon bước đến gần cây, chạm nhẹ và ngước lên nhìn nó với sự tôn kính. 
Ở khu vực này, không ai được phép săn bắn động vật hay chặt cây cối. Thậm chí, không ai được phép đến khu vực cây linh thiêng nếu chưa nhận được sự đồng ý và chưa có người hộ tống. 
Cô Amy sau đó được ông Lubala Simon dẫn đến đền thờ linh hồn Luwala. Trong đền có một ngọn lửa nằm giữa các tô chứa thuốc lá, chuỗi hạt, vỏ ốc, trái cây khô, xương, hạt cà-phê và tiền giấy. 
"Lễ vật, quà, tiền. Người ta cầu xin mọi thứ: con cái, tiền tài, sự che chở. Đôi khi họ muốn điều xấu xa xảy ra. Nếu mong muốn của họ quá khó, họ sẽ nhận được một thử thách. Vượt qua được thử thách này, họ sẽ được linh hồn Luwala cân nhắc thực hiện điều ước" – ông Lubala Simon chia sẻ.
Những vệ binh cuối cùng của linh hồn trăn - Ảnh 5.
Người dân trên đảo Bugala cúng tế linh hồn Luwala với hy vọng rằng điều ước của họ sẽ được thực hiện. Ảnh: BBC
Với cuộc sống hiện đại, thế hệ trẻ ngày nay không còn mong muốn trở thành emandwa vì họ không muốn bị "chôn chân" trên đảo Bugala. Trong khi đó, niềm tin của họ với linh hồn Luwala cũng suy giảm. 
Thiên Chúa giáo và Hồi giáo hiện là 2 tôn giáo chính trên đảo. "Ngày càng có nhiều thứ biến mất: đất đai của chúng tôi, những địa điểm đặc biệt của chúng tôi, chúng tôi… Nhưng linh hồn Luwala sẽ tồn tại mãi mãi. Ông ta đã ở đây trước khi mọi thứ xuất hiện. Chúng tôi nguyện bảo vệ ông ấy mãi mãi" – một già làng khẳng định với cô Amy.
Cao Lực (Theo BBC)

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2016

Vườn quốc gia núi Rwenzori

Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Vườn quốc gia núi Rwenzori của Uganda là Di sản thiên nhiên thế giới năm 1994.
Vườn quốc gia núi Rwenzori nằm ở phía Tây của đất nước Uganda.
Vườn quốc gia núi Rwenzori nằm ở phía Tây của đất nước Uganda. Vườn gồm các khu vực: khu vực núi, thác nước, đồng bằng và hồ. Phần chính của vườn là dãy núi Rwenzori, đây là đỉnh núi cao thứ 3 tại Châu Phi sau núi Kilimanjaro của Kenya và núi Margherita. Cảnh núi non, thác nước, đồng bằng và hồ tạo nên một cảnh sắc đẹp tuyệt đẹp, hiếm thấy mà bất kỳ ai đã từng nhìn thấy cũng phải công nhận. Cũng bởi sở hữu những đỉnh núi cao, hiểm trở mà dãy núi Rwenzori còn được gọi là "Núi của Mặt Trăng". Có rất nhiều những câu truyện huyền thoại về "Núi của Mặt Trăng" vẫn còn lưu truyền đến tận ngày nay.
Phần chính của vườn là dãy núi Rwenzori
Tổng diện tích vườn là 996 km2, trong đó chiều dài là 120 km và chiều rộng là 48 km. Hơn 70% diện tích của vườn quốc gia núi Rwenzori nằm trên độ cao 2.500 mét so với mặt nước biển. Địa hình chính là núi với đỉnh cao nhất 5,109 mét. Bên cạnh đó còn hai đỉnh Speke và Baker là đỉnh núi cao thứ tư và thứ năm ở Châu Phi cũng nằm trong địa phận vườn quốc gia này. Với sự kết hợp hoàn hảo của thiên nhiên, những dãy núi cao, hồ nước và vùng đồng bằng, người ta thường nói Vườn quốc gia núi Rwenzori là nơi có cảnh quan đẹp nhất Châu Phi.
Dãy núi Rwenzori còn được gọi là "Núi của Mặt Trăng"
Vườn quốc gia núi Rwenzori thường xuyên thấy tuyết phủ
Vườn quốc gia núi Rwenzori cũng là nơi sinh trưởng của nhiều loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng. Bên cạnh đó hệ thực vật vô cùng phong phú cũng góp phần đưa vườn quốc gia vào danh sách di sản thế giới được Unesco công nhận.
Với địa hình chủ yếu là núi cao, vườn quốc gia chia thành 5 khu vực sinh trưởng của các loài thực vật khác nhau thay đổi theo độ cao. Hệ động vật trong vườn gồm 217 loài chim; 15 loài bướm; vài chục loài động và vật linh trưởng trong đó có voi rừng Châu Phi, Tinh Tinh và Khỉ núi là những loài động vật hoang dã quý hiếm. Tuy hệ động vật không có nhiều và thực sự đa dạng nhưng bù lại hệ thực vật của vườn vô cùng phong phú. Thực vật sinh trưởng tại vườn đặc biệt nhiều những loài lớn trong đó có thạch nam khổng lồ, hoa thị khổng lồ, cây Lobelia...
Với địa hình chủ yếu là núi cao, vườn quốc gia chia thành 5 khu vực sinh trưởng của các loài thực vật khác nhau thay đổi theo độ cao.
Dãy núi Rwenzori còn là quê hương của dân tộc Bakonjo và Baamba. Những dân tộc này có truyền thống sản xuất nông nghiệp, canh tác. Từ thế hệ này sang thế hệ khác họ sinh sống trên các sườn núi, khai thác gỗ để xây dựng, sản xuất sợi, trồng các loài cây thuốc và săn bắt động vật. Kể từ khi vườn quốc gia được thành lập, việc săn bắn bị cấm mặc dù vậy những người dân quanh khu vực vẫn thường săn bắn trộm trong khu vực vườn quốc gia.
Thực vật sinh trưởng tại vườn đặc biệt nhiều những loài lớn trong đó có thạch nam khổng lồ, hoa thị khổng lồ, cây Lobelia...
Trong 5 năm từ năm 1997 đến năm 2001, vườn quốc gia núi Rwenzori bị lực lượng Rebel chiếm đóng khiến các hoạt động bảo tồn tại đây bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Năm 1999, vì nạn săn bán trộm mất kiểm soát cùng với đó là chặt phá rừng, Di sản thiên nhiên thế giới này bị đưa vào danh sách Những di sản có nguy cơ bị đe dọa. Sau khi chính phủ lấy lại quyền quản lý vườn quốc gia và đuổi được lực lượng Rebel ra khỏi khu vực năm 2001. Nhiều hoạt động bảo tồn đã được thực hiện nhằm trả lại môi trường tự nhiên và hệ sinh thái đa dạng của vườn quốc gia. Nhờ sự tích cực đó năm 2004, vườn quốc gia núi Rwenzori được rút tên khỏi danh sách Di sản có nguy cơ bị đe dọa.
Thực vật sinh trưởng tại vườn đặc biệt nhiều những loài lớn trong đó có thạch nam khổng lồ, hoa thị khổng lồ, cây Lobelia...
Vườn quốc gia núi Rwenzori được Unesco công nhận theo tiêu chí ( vii) và (x)
Tiêu chí (vii): Dãy núi Rwenzori còn được gọi là "Núi của Mặt Trăng", là nơi có cảnh quan thiên nhiên vô cùng kỳ thú với những ngọn núi cao, hiểm trở. Trong đô có đỉnh núi cao thứ 3 tại Châu Phi sau núi Kilimanjaro của Kenya và núi Margherita. Sự kết hợp tuyệt vời giữa tầng địa chất với môi trường tự nhiên tại đây đã tạo nên một cảnh quan hiếm thấy cho vườn quốc gia với những thác nước, hồ nước trong xanh và thảm thực vật đa dạng.
Tinh Tinh
Tiêu chí (x): Địa hình chủ yếu là núi cao, vườn quốc gia chia thành 5 khu vực sinh trưởng của các loài thực vật khác nhau thay đổi theo độ cao. Hệ động vật trong vườn gồm 217 loài chim; 15 loài bướm; vài chục loài động và vật linh trưởng. Vườn quốc gia núi Rwenzori là nơi sinh trưởng của nhiều loài thực vật có kích thước lớn trong đó có loài thạch nam khổng lồ, hoa thị khổng lồ, cây Lobelia...đều là những loài thực vật hiếm gặp trên thế giới. Bên cạnh đó, các nhà động vật học còn ghi nhận sự xuất hiện của loài voi rừng Châu Phi, Tinh Tinh và Khỉ núi...những loài động vật được xếp trong danh sách quý hiếm sinh trưởng tại vườn quốc gia này.
Cập nhật: 06/01/2016Theo disanthegioi.info

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Uganda – Vườn quốc gia cấm Bwindi ( 1994)

(Cinet-DSTG) – Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Vườn quốc gia cấm Bwindi của Uganda là Di sản thiên nhiên thế giới năm 1994.
Vườn quốc gia cấm Bwindi, Uganda
Vườn quốc gia cấm Bwindi nằm dọc theo biên giới với Cộng hòa Dân chủ Congo, giáp với vườn quốc gia Virunga. Tổng diện tích vườn quốc gia khoảng 331 km2 gồm các cánh rừng, núi và vùng rừng đất thấp. Muốn đến được khu vực rừng cấm này chỉ có 1 con đường duy nhất đó là đi bằng đường bộ. Năm 1994, vườn quốc gia cấm được Unesco đưa vào danh sách Di sản thế giới bởi sự giàu có và đa dạng của hệ sinh thái thuộc loại nhất Châu Phi.
Vườn quốc gia cấm Bwindi có tính năng vượt trội của một vườn quốc gia, nơi đây là môi trường sống và cư ngụ cho hơn 100 loài động vật có vú, 348 loài chim, 220 loài bướm, 27 loài lưỡng cư và một vài loài có tên trong danh sách động vật quý hiếm. Hệ thực vật tại rừng cấm Bwindi cũng vô cùng phong phú với danh sách hơn 1000 loài thực vật có hoa trong đó có 163 loài cây, 104 loài dương xỉ. Khu vực phía bắc là vùng rừng thấp với nhiều loài gỗ quý trong đó có 2 loài đã được quốc tế ghi vào danh sách những giống cây có nguy cơ mất hoàn toàn. Trong danh sách hơn 100 loài động vật cư trú tại vườn có những loài quý hiếm như: tinh tinh, khỉ Colobus, khỉ đột núi, chim mỏ sừng, chim Turaco…Đặc biệt là loài bướm khổng lồ với số lượng ít ỏi còn lại trên thế giới. 
Là nơi cư trú, sinh trưởng của hơn 100 loài động vật, 348 loài chim, 220 loài bướm nhưng vườn quốc gia cấm Bwindi được biết đến nhiều nhất như là ngôi nhà của loài khỉ núi, tinh tinh và loài bướm khổng lồ

Năm 1932, khu vực này chưa được thiết lập thành vườn quốc gia, phía bắc rừng được thiết lập như một khu bảo tồn rừng Crow còn phía nam là khu bảo tồn rừng Kayonza. Cả hai khu bảo tồn có diện tích 207 km vuông. Năm 1942, hai khu bảo tồn được liên kết để mở rộng thành Rừng cấm Crown với diện tích 298 km. Năm 1964, rừng cấm được đổi tên thành Khu bảo tồn rừng cấm Crowm với chức năng bảo tồn động vật hoang dã và đặc biệt là loài khỉ đột núi. Đến năm 1966, khu bảo tồn được tăng diện tích lên gần 321 km.
Năm 1991, cùng với khu bảo tồn Mgahinga Gorilla và khu bảo tồn Rwenzori, khu bảo tồn rừng cấm Crowm được chuyển thành vườn quốc gia với diện tích trên 330 km2. Chính phủ Uganda công bố thành lập vườn quốc gia nhằm bảo vệ môi trường sống cho các loài thực vật tại đây đồng thời tạo ra môi trường sinh trưởng cho các loài động vật, các loài chim, lưỡng cư. Mặc dù có nhiều mặt lợi ích như vậy song việc thành lập vườn quốc gia cũng tác động lớn tới cuộc sống của người lùn Batwa, vốn là tộc người cư trú tại khu vực này đã nhiều thế kỷ. Bởi việc thành lập vườn quốc gia, những người lùn Batwa buộc phải rời khỏi mảnh đất mà cha ông họ đã sống qua nhiều thế hệ, bên cạnh đó họ cũng không còn được phép trồng trọt, săn bắn trong khu vực này vì thế mà cuộc sống của họ bị đẩy vào khó khăn. 
Bắt đầu mở cửa đón khách du lịch năm 1993, vườn quốc gia cấm Bwindi nhanh chóng trở thành địa điểm thu hút du lịch tại Uganda

Năm 1993, vườn quốc gia bắt đầu các hoạt động du lịch và nhanh chóng trở thành điểm du lịch hút khách ở Uganda. Năm 1999, 14 du khách nước ngoài thăm quan vườn quốc gia Bwindi đã bị bắt cóc, nhiều nạn nhân đã bị tra tấn, trong số đó 6 người đã bị giết. Sau sự kiện này, lượng khách du lịch tới thăm quan vườn giảm hẳn, du khách không còn dám tới đây thăm quan du lịch bởi quá khiếp sợ. Chính phủ Uganda cũng buộc phải đóng cửa vườn quốc gia trong vài tháng để củng cố và thắt chặt an ninh.
Không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp, là môi trường thích hợp cho nhiều loài động vật hoang dã và hàng trăm loài chim. Vườn quốc gia cấm Bwindi còn có tầng địa chất rất đặc biệt với đá phiến, thạch anh và đá granit. Sự phong phú của các loài cây và sự phân bố phù hợp của rừng cây góp phần không nhỏ trong việc điều hòa lưu vực nước trong vườn quốc gia.
Vườn quốc gia cấm Bwindi được Unesco công nhận theo tiêu chí (vii), (x)
Tiêu chí (vii): Vườn quốc gia cấm Bwindi là địa điểm quan trọng không phải bởi cảnh sắc thiên nhiên nơi đây mà bởi đây là một hiện tương thiên nhiên kỳ thú của thế giới.
Tiêu chí (x): Vườn quốc gia cấm Bwindi là môi trường sống và cư ngụ cho hơn 100 loài động vật có vú, 348 loài chim, 220 loài bướm, 27 loài lưỡng cư và một vài loài có tên trong danh sách động vật quý hiếm. Hệ thực vật tại rừng cấm Bwindi cũng vô cùng phong phú với danh sách hơn 1000 loài thực vật có hoa trong đó có 163 loài cây, 104 loài dương xỉ. Khu vực phía bắc là vùng rừng thấp với nhiều loài gỗ quý trong đó có 2 loài đã được quốc tế ghi vào danh sách những giống cây có nguy cơ mất hoàn toàn. Trong danh sách hơn 100 loài động vật cư trú tại vườn có những loài quý hiếm như: tinh tinh, khỉ Colobus, khỉ đột núi, chim mỏ sừng, chim Turaco..
Cảnh sắc thiên nhiên kỳ thú tại vườn quốc gia cấm Bwindi

Thái Anh

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Tận mục khu lăng mộ hoàng gia lạ lùng ở châu Phi

(Kiến Thức) - Khu lăng mộ Buganda có kiến trúc vô cùng độc đáo, là nơi yên nghỉ của bốn vị vua trị vì vương quốc Bungada - tiền thân của đất nước Uganda ngày nay. 

Tan muc khu lang mo hoang gia la lung o chau Phi

Nằm trên một sườn đồi ở tỉnh Kasubi, Uganda, khu lăng mộ Bungada là nơi yên nghỉ của bốn vị vua trị vì vương quốc Bungada - tiền thân của đất nước Uganda ngày nay.

Tan muc khu lang mo hoang gia la lung o chau Phi-Hinh-2

Được vua Muteesa I cho xây dựng năm 1882, mục đích đầu tiên của các công trình này không phải để làm lăng mộ hay nghĩa trang mà là một cung điện hoàng gia

Tan muc khu lang mo hoang gia la lung o chau Phi-Hinh-3

Đến năm 1884, khi vua Muteesa I qua đời, nơi này được sử dụng để làm nơi thờ cúng và chứa đựng di hài của nhà vua. Từ đó về sau, các vị vua qua đời đều được chôn cất tại đây, và lăng mộ Buganda trở thành một nghĩa trang hoàng gia

Tan muc khu lang mo hoang gia la lung o chau Phi-Hinh-4

Khu lăng mộ này có kiến trúc vô cùng độc đáo, được xây dựng theo truyền thống bản địa với các vật liệu địa phương

Tan muc khu lang mo hoang gia la lung o chau Phi-Hinh-5

Các tòa nhà ở nơi đây có tường được dựng lên bằng lau sậy đan vào nhau, chống đỡ bằng cột gỗ bó trong vải làm từ vỏ cây sung, mặt đất được phủ bằng chiếu lá cọ và cỏ. Mái lăng mộ được lợp lau sậy và gia cố bằng 52 vòng tròn, tượng trưng cho 52 tộc người của văn hóa Uganda

Tan muc khu lang mo hoang gia la lung o chau Phi-Hinh-6

Vô số bảo vật của hoàng gia Buganda được lưu giữ và trưng bày trong các lăng mộ.

Tan muc khu lang mo hoang gia la lung o chau Phi-Hinh-7

Năm 2001, khu lăng mộ Buganda đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Tiếc thay, vào ngày 16/3/2010, một trận hỏa hoạn lớn đã thiêu rụi hoàn toàn các công trình chính ở nơi đây.

Tan muc khu lang mo hoang gia la lung o chau Phi-Hinh-8

Sau vụ cháy gây thiệt hại lớn đó, chính phủ Uganda đã kêu gọi hỗ trợ nhằm tái thiết lập và phục dựng lại khu lăng mộ. Hiện nay, phần lớn các công trình đã được dựng lại theo nguyên mẫu đầu tiên.

T.B (tổng hợp)

Uganda – Khu lăng mộ Bungada ở Kasubi ( 2001)


(Cinet-DSTG) – Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã công nhận Khu lăng mộ Bungada ở Kasubi của Uganda là Di sản văn hóa thế giới năm 2001.

Một công trình trong khu lăng mộ Bungada ở Kasubi
Khu lăng mộ Bungada ở Kasubi được ghi nhận là Di sản văn hóa thế giới xếp trong danh sách những Di sản có nguy cơ bị đe dọa bởi nhiều phần của di sản đã bị phá hủy hoàn toàn. Khu lăng mộ Bungada ở Kasubi là một khu vực rộng khoảng gần 30 ha nằm trải dài trên sườn đồi huyện Kampala. Đây là nơi yên nghỉ của bốn vị vua của vương quốc Bungada gồm: Vua Muteesa I (1835–1884); Vua Mwanga II (1867–1903); Vua Daudi Chwa II (1896–1939) và Vua Sir Edward Muteesa II (1924–1969). Tất cả hậu duệ của 4 vị vua Uganda trên sau khi qua đời đều được chôn cất tại khu vực phía sau đền chính. Chính vì vậy, nơi đây trở thành nghĩa trang hoàng gia của Uganda.
Tuy hiện nay được sử dụng như một nghĩa trang của hoàng gia song mục đích xây dựng đầu tiên của các công trình này không phải để làm lăng mộ hay nghĩa trang. Năm 1882, Vua Muteesa I cho xây dựng những công trình này để làm cung điện hoàng gia. Hai năm sau đó, khi vua Muteesa I qua đời, nơi này được sử dụng để làm nơi thờ cúng và chứa đựng di hài của nhà vua. Từ đó về sau, các vị vua sau khi qua đời đều được chôn cất tại đây. 
Sơ đồ và những công trình tiêu biểu trong khu lăng mộ Buganda

Khu lăng mộ Bungada ở Kasubi được thiết kế với phong cách rất ấn tượng với cột gỗ bó trong vải, mặt đất được phủ bằng chiếu lá cọ và cỏ. Cách xây dựng khu lăng mộ này cũng vô cùng độc đáo bởi những công trình này hoàn toàn được xây dựng kiểu theo truyền thống bản địa. Nguyên liệu dùng để xây dựng các lăng mộ cũng là những nguyên liệu địa phương. Tường được dựng lên bằng lau sậy đan vào nhau. Các tấm vải sử dụng để trang trí cột làm từ vỏ cây sung. Loại cây này có ý nghĩa quan trọng trong các nghi lễ của người Uganda. Người Uganda còn tuân thủ quy tắc không thành văn, bất di bất dịch đó là nam giới khi lợp mái nhà không được phép quan hệ với vợ hay người yêu cho đến khi hoàn thành công việc. Đồng thời, phụ nữ không được phép vào nhà trong thời gian lợp mái vì người ta tin rằng nếu làm sai quy tắc đó thì mái nhà bị dột khi gió mùa về. Thêm vào đó, 52 tộc người của văn hóa Uganda biểu hiện ở 52 vòng tròn đỡ cấu trúc mái. Các nhà lịch sử cho rằng kỹ thuật xây dựng lăng mộ hoàng gia có từ thế kỷ 13 tuy nhiên thời điểm chính xác thì chưa thể xác định.
Năm 2001, khu lăng mộ này được Unesco công nhận là Di sản thế giới. Kể từ đó, nơi đây trở thành một trong những điểm thăm quan đặt biệt thu hút khách du lịch tại Uganda. Khi đến thăm quan khu lăng mộ này, khách du lịch vô cùng ngạc nhiên trước kiến trúc bản địa ấn tượng, đồng thời được tận mắt chiêm ngưỡng vô số bảo vật của Hoàng gia hiện vẫn còn được lưu giữ và trưng bày. Ngày 16 tháng 3 năm 2010, trong một trận hỏa hoạn lớn, một vài công trình chính trong khu lăng mộ tại Kasubi gần như bị thiêu rụi hoàn toàn. Sau vụ cháy gây thiệt hại lớn đó, Chính phủ Uganda đã kêu gọi hỗ trợ nhằm tái thiết lập và phục dựng lại Khu lăng mộ. Mặc dù hiện nay, phần lớn các công trình đã được dựng lại theo nguyên mẫu đầu tiên tuy nhiên nó không thực sự là bản gốc vốn có. 
Cách xây dựng hết sức độc đáo với nguyên liệu địa phương tạo nên ấn tượng cho các công trình kiến trúc này..

Hiện nay, khu lăng mộ này vẫn có vị trí đặc biệt quan trọng tại Uganda. Các nghi lễ truyền thống được duy trì, kế thừa từ hàng trăm năm qua vẫn liên tục được tổ chức tại đây hàng năm. Một trong những nghi lễ đó là nghi lễ lên đồng,  nghi lễ được thực hiện giữa người dân bộ tộc với vị vua của họ. Nghi lễ lên đồng luôn được tổ chức vào những ngày mưa gió lớn, điều đặc biệt tạo nên sức hút cho nghi lễ này đó là nó được tiến hành một cách bí mật bên trong tòa nhà, không một người ngoài tộc nào được biết và tham dự.
Khu lăng mộ Bungada ở Kasubi được Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới xếp trong danh sách những Di sản có nguy cơ bị đe dọa theo các tiêu chí (i), (iii), (iv), (vi).
Tiêu chí (i): Khu lăng mộ Bungada ở Kasubi là một minh chứng cho sự sáng tạo của con người, nói cụ thể hơn là của người dân vương quốc Bungada xưa kia.
Tiêu chí (iii): Khu lăng mộ Bungada ở Kasubi cò là minh chứng lịch sử, văn hóa của dân tọc Bungada
Tiêu chí (iv): Khu lăng mộ Bungada ở Kasubi ngoài ý nghĩa về lịch sử, văn hóa còn là một công trình kiến trúc hoàn hảo được xây dựng dựa trên cách thức xây dựng truyền thống, kết hợp nhuần nhuyễn với nguồn nguyên liệu địa phưng. Các công trình kiến trúc ở đây đồng thời còn có ảnh hưởng đến những kiến trúc khác tại Uganda sau đó nhiều thế kỷ.
Tiêu chí (vi): Hiện nay, khu vực này vẫn được sử dụng như là một nơi linh thiêng để thực hiện các nghi lễ tôn giáo được gìn giữ và kế thừa suốt nhiều thế hệ. 
Những hiện vật hiện còn được lưu giữ và trưng bày tại khu lăng mộ hoàng gia
Trận hỏa hoạn lớn năm 2010 đã thiêu rụi phần lớn các công trình chính trong khu lăng mộ

Thái Anh

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

“Công viên rác thải” - nghệ thuật vì cộng đồng

Sau khi thu nhặt được lượng lớn rác thải, khoảng 20.000 chai lọ nhựa trong những khu ổ chuột ở Kampala (Uganda), nhóm của Ruganzu Bruno bắt tay vào lắp ráp các “tác phẩm nghệ thuật”. Khu công viên được tạo ra từ chính những thứ rác thải đã trở thành điểm vui chơi ưa thích của trẻ em trong khu vực.
Từ mong muốn thay đổi môi trường
Ngay khi Ruganzu Bruno cùng nhóm của anh tới khu vực Kawempe của Kampala, người dân địa phương đã xúm lại với đầy vẻ tò mò: “Các anh đang làm gì vậy? Tại sao lại lấy những thứ đồ nhựa bỏ đi này?” - họ hỏi dồn dập khi thấy nhóm của Bruno nhặt về một đống chai nhựa thải chất đầy khu nhà kho ở vùng ngoại ô phía tây bắc Thủ đô Uganda. Và rồi, từ tò mò, những người dân tỏ ra quan tâm thích thú và hưởng ứng dự án với những công trình làm từ vật liệu tái chế. “Chúng tôi muốn gửi tới mọi người thông điệp rằng, khi họ vứt rác đi, họ cũng có thể nhặt lại chúng, vừa có thể tái sử dụng, vừa bảo vệ môi trường” - Bruno nói. Lúc đầu, người dân còn ngượng, nhưng sau đó, họ đã thực sự thích việc làm này. Họ thường xuyên đem đến cho chúng tôi rất nhiều “rác thải”.
Đó là khoảng 4 năm trước đây, khi Bruno vẫn còn là sinh viên Đại học Mỹ thuật Kyambogo. Thời gian đó, người họa sĩ tài năng phát hiện ra rằng anh không chỉ quan tâm đến những tác phẩm nghệ thuật đáp ứng nhu cầu sáng tạo của bản thân mà muốn sự sáng tạo nghệ thuật của mình có tác động tích cực đến cộng đồng. “Những nghệ sĩ như chúng tôi có xu hướng làm việc cho chính mình. Nhưng tôi cảm thấy một sự thay đổi trong chính bản thân, từ đó, tôi không chỉ vẽ đơn thuần mà quyết định sẽ tạo ra những tác phẩm có lợi cho cộng đồng” - họa sĩ Bruno, 30 tuổi, đến từ miền tây nam Uganda giải thích.
Thôi thúc bởi những mong muốn thay đổi môi trường xung quanh, Bruno đã tham gia vào dự án sinh thái nghệ thuật, đưa ra những sáng tạo để đối phó với vấn đề xử lý chất thải ở Kampala. Năm 2010, anh thành lập Eco Art Uganda, một nhóm các họa sĩ có cùng ý tưởng, tận dụng tất cả những phế thải bỏ đi như ti vi, máy tính để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường. “Tôi tìm kiếm những vật liệu rẻ, có sẵn và nhận thấy rằng rác thải thực sự có thể trở thành công cụ chuyển tải ý tưởng của mình” - Bruno nói. Anh giờ đã là giảng viên khoa Thiết kế nghệ thuật Đại học Kyambogo.
100 công viên tái tạo
Tháng 4/2012, Bruno giành giải thưởng trị giá 10.000 USD tại Hội nghị TED Doha, Qatar cho ý tưởng tạo ra một sân chơi giải trí cho trẻ em sống ở khu ổ chuột đông đúc ở Kampala. Sử dụng một loạt các loại vật liệu tái chế, Bruno đã biến một sân trường ở khu vực Kireka, Kampala thành một nơi thú vị, an toàn để trẻ em vui chơi và học hỏi.
Công viên sinh thái được hoàn thành vào tháng 9/2012 với những mô hình kỳ lạ, thu hút hàng chục trẻ em tới mỗi ngày - từ chiếc trực thăng đầy màu sắc tới các mô hình trò chơi to như thật làm từ các chai nhựa tái chế hay những khung chơi leo trèo đặc chế từ những chiếc lốp xe cũ.
Bruno nói rằng, người dân địa phương đã nhiệt tình hưởng ứng dự án này bởi trẻ em ở đây quá thiếu khu vui chơi giải trí. “Tôi đã nói chuyện với hiệu trưởng và các phụ huynh, học sinh, họ chính là người đã giúp chúng tôi thu thập những vỏ chai lọ. Vì thế chúng tôi đã cùng nhau tạo dựng được một sân chơi và họ biết cách sửa chữa khi chúng bị hư hỏng. Điều này rất quan trọng để duy trì sân chơi bền vững. Nhưng điều quan trọng hơn, dự án này đã có những tác động tích cực đến các em nhỏ” - Bruno nói. Trẻ em thích thú với việc đến trường hơn trước, số trẻ em bỏ học đã giảm bởi vì giờ đây đã có thứ để “giữ chân” chúng ở trường, các hoạt động vui chơi cũng giúp các em tiến bộ nhiều trong học tập.
Bruno cho biết, mục tiêu của anh là tái tạo khoảng 100 công viên giải trí tương tự ở những nơi khác tại Uganda. Đó là một phần trong nỗ lực không ngừng của Bruno để có những tác phẩm phục vụ cộng đồng mình. “Tôi nghĩ rằng, con người luôn được nhớ đến bởi những công việc mà anh ta đã làm. Tôi là một người ủng hộ bảo vệ môi trường, ủng hộ trẻ em vui chơi, và tôi là một nghệ sĩ… tôi muốn những tác phẩm của mình đem lại hiệu quả cho cộng đồng”, Bruno nói.

ANTĐ

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

Rong chơi dưới tán rừng Murchison

TT - Từ Kampala, thủ đô Uganda, bỏ lại sau lưng những khu vực dân cư đông đúc, náo nhiệt, xe băng qua những đồng cỏ thưa thớt về phía tây để đến với safari rừng quốc gia, thác Murchison.
Thác nước Murchison ở Uganda - Ảnh: Tô Vân Nga
Nằm trên đường xích đạo, Uganda có lẽ nóng hơn một chút so với các nước láng giềng ở Đông Phi như Rwanda hay Ethiopia. Do được báo trước nên tôi không mặc đồ màu xanh nước biển để tránh ruồi ste ste, một loại ruồi luôn lao vào người mặc đồ màu này.
Xe dừng lại khi gặp dòng sông Nile, con sông dài nhất thế giới và chảy qua mười nước châu Phi. Điều tuyệt vời nhất trong ngày đầu tiên, sau bảy tiếng đồng hồ ngồi ôtô, là thác nước Murchison.
Nghỉ giữa “vòng vây” thú rừng
Nước sông đổ xuống từ trên cao và chảy xiết qua khu rừng, ngọn núi và chúng tôi bắt đầu đi bộ, trèo lên những ngọn núi, vượt qua khúc ngoặt và ngắm thác nước Murchison đổ xuống trắng xóa từ xa.
“Có lẽ cuộc sống ở đây vẫn diễn ra như hàng nghìn năm trước đây” - tôi tự nhủ khi ngắm bầu trời xanh ngắt phía trên khoảng rừng ken dày và bọt nước trắng xóa, mãnh liệt của thác nước. Sừng sững ngay trước mặt tháp nước trắng xóa đổ xuống từ trên cao tạo ra một lớp sương mù mát lạnh bay huy hoàng dưới ánh sáng của chiếc cầu vồng lớn vắt ngang qua thác nước.
Chúng tôi nghỉ tại Red Chilli, một khu nghỉ gồm lều bạt và nhà nhỏ một tầng bungalow ở giữa rừng quốc gia thác Murchison. “Sáng mai chúng ta sẽ đi thăm safari bằng ôtô, sau đó đến chiều đi sông Nile ngược lên thác Murchison. Và ngày hôm sau trên đường về sẽ đi thăm khu rừng có tê giác” - anh hướng dẫn viên nói bằng ngôn ngữ tiếng Anh khá trôi chảy.
Anh cũng dặn mọi người ở khu lều vải bạt tránh để đồ ngọt trong lều đề phòng lợn rừng và thú hoang bị thu hút bởi hương thơm sẽ mò vào. “Các bạn đừng quên khu nghỉ nằm giữa rừng. Buổi tối nếu bạn thấy lợn rừng hoặc thú hoang thì đừng bấm đèn pin thẳng vào mắt chúng. Điều này sẽ kích thích chúng và có thể chúng sẽ nổi giận” - anh hướng dẫn viên nói.
Trời tối nhanh và nhiệt độ xuống thấp hơn trên lục địa đen khiến không khí mát lạnh. Trên đầu là bầu trời sao lung linh, trĩu nặng thật gần như có thể chạm tay là tới. Bỗng bạn tôi đứng sững lại và chỉ về phía xa, hình như có con gì đó. Phút chốc mọi người trong khu nghỉ xôn xao bấm đèn pin về phía nghi ngờ. Thì ra bốn chú lợn lòi đang cắm cúi gặm cỏ. Một phen hú hồn nhưng cũng thật thú vị.
Tối hôm sau, dưới ánh trăng mờ ngay sát khu ở chúng tôi lại thấy bóng dáng lừng lững như voi của con hà mã ăn cỏ. Hướng dẫn viên tiết lộ khu này gần sông nên ban đêm hà mã lên ăn cỏ sau cả ngày đầm mình dưới nước tránh cái nóng ngoài trời thiêu đốt.
Khách du lịch đang chờ chèo thuyền tại hồ Bunyonyi, giáp biên giới Uganda và Congo - Ảnh: Tô Vân Nga
Hòa mình với thiên nhiên
Sang ngày thứ hai của chuyến đi, chúng tôi nhanh chóng khởi hành vào sáng sớm. Qua phà sông Nile chẳng bao lâu, khu rừng thưa và những cây cao điểm xuyết bên thảm cỏ vàng thấp thoáng hiện ra. Trần ôtô tự động mở ra đón gió mát và rất tiện cho việc đưa ống kính máy ảnh ra chụp hình. Xe chạy qua những đồi cỏ vàng đầy hươu, nai hiền lành. Trên đồi cỏ là nhiều loài vật khác như lợn lòi, hươu cao cổ, gà rừng sống hòa bình bên nhau.
Sự giao cảm với thiên nhiên thật tuyệt vời. Khi tôi vẫy một con nai nhỏ và con hươu cao cổ, chúng tò mò nhìn tôi hồi lâu như thể muốn đi theo. Trâu rừng đi thành đoàn hàng trăm con đứng ngây bên đường nhìn du khách, trên lưng chúng là những chú cò trắng bè bạn giúp chúng làm sạch răng. Voi rừng thì phải nhìn rất kỹ mới thấy vì chúng tránh xa đường đi, từ xa nhìn chúng như những tảng đá xám di động.
Chiều đến là lúc chúng tôi bắt đầu chuyến tàu thủy trên sông Nile. Tàu có mũi bằng thép (có lẽ để tránh đá ngầm) rẽ nước mà đi. Hai bên bờ sông là vô số hà mã, trên bờ là lợn lòi, thỉnh thoảng thấy đàn cá sấu há miệng dưới gốc cây.
Khu vực này còn nhiều đại bàng trắng. Chúng đậu cô đơn trên những cây cao cạnh bờ sông chờ mồi. Những con chim nhỏ cổ đỏ thắm, những con chim xanh đi theo từng đàn làm tổ sát sạt nhau trong hốc đá. Những con chim bói cá màu đen trắng bay rối rít đôi cánh để giữ thăng bằng sau đó thoăn thoắt nhào xuống khi nhìn thấy mồi.
Hươu cao cổ ở rất gần đường nơi xe safari đi qua và tò mò nhìn khách du lịch - Ảnh: Stanley
Cuộc sống thanh bình ở một thôn gần hồ Bunyonyi - Ảnh: Tô Vân Nga
Ở Uganda có nhiều hà mã sống ở ven sông Nile và các hồ nước - Ảnh: Stanley
TÔ VÂN NGA