Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổng hợp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổng hợp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

Vì sao có truyền thống trang trí và thắp sáng cây Noel

Mọi người sẽ bắt đầu trang trí cây thông khi mùa Vọng bắt đầu và thường bỏ đi vào 12 ngày sau Giáng sinh.

Vào tháng 12 hàng năm, người dân trên thế giới lại háo hức cùng nhau chuẩn bị đồ đạc để trang trí cây Noel. Loài cây được mọi người dùng trong dịp này là cây thường xanh (đại diện của nó là thông).
Ban đầu, việc trang trí loại cây này nhằm mục đích chào mừng lễ hội mùa đông của Kito giáo. Người La Mã dùng cây cối để trang trí đền thờ còn những người theo đạo Thiên chúa thì coi đây là một biểu tượng cho sự tái sinh của Đức Chúa. 
Lý do nên để cây thông Noel tươi trong nhà. Nguồn: Fox9.com.
Tuy nhiên, không ai biết được một cách chính xác khi nào cây thường xanh được sử dụng để làm cây Noel. Theo Whychristmas, lịch sử về cây Giáng sinh có thể bắt đầu từ 1.000 năm trước ở Bắc Âu. 
Ban đầu, tại một số vùng Bắc Âu, người ta dùng cây anh đào hay táo gai để làm cây Giáng sinh. Ở những nơi không có cây, họ tạo ra các cây bằng gỗ, treo lên nến và các cành cây lá màu xanh.
ADVERTISEMENT
Tại Đức, cây Giáng sinh đầu tiên được trang trí với đồ ăn, như bánh gừng và táo. Họ cũng treo lên đó những bông hồng bằng giấy. Ảnh: HappyHolidays.
Truyền thống mang cây Noel vào trong nhà và trang trí bắt đầu phổ biến ở Đức vào những năm 1520. Người đầu tiên làm việc này là nhà truyền đạo Martin Luther. Vào thế kỷ 16, Luther đã đi bộ xuyên qua một khu rừng vào đêm trước Giáng sinh. Ông nhìn thấy một cái cây thật đẹp và mang về nhà. Ông nói với con mình rằng cái cây nhắc cho ông nhớ tới Đức Chúa.
Một truyền thuyết khác cũng liên quan đến cây Giáng sinh về một kiểm lâm. Vào một Giáng sinh, người kiểm lâm đang cùng gia đình tụ tập quanh lò sưởi để giữ ấm thì nghe thấy tiếng gõ cửa. Bên ngoài là một cậu bé nhà nghèo. Người này đã cho cậu bé vào sưởi ấm và ngủ qua đêm. Họ cũng cho chú bé ăn, tắm rửa và ngủ trên chiếc giường của cậu con trai út.
Sáng hôm sau, cả gia đình thức giấc bởi một dàn hợp xướng của các thiên thần. Cậu bé nghèo chính là chúa Jesus. Để cảm ơn lòng tốt của gia đình người gác rừng, Đức Chúa đã đưa tặng họ một nhánh thường xanh và mang vào trong nhà. Từ đó, vào đêm Giáng sinh, mọi người thường mang cây thường xanh vào nhà và trang trí, như một sự tưởng nhớ đến kỷ niệm khó quên với Đức Chúa.
Trong các món đồ trang trí trên cây, người ta thường treo một con nhện đang giăng tơ. Món đồ này được bắt nguồn từ một sự tích ở Đông Đức hoặc Ukraine. Ngày nay, những câu chuyện này vẫn còn được kể lại trong cộng đồng người Phần Lan và vùng Scandinavi.
Truyền thuyết kể rằng, một gia đình nghèo đã không có tiền để trang trí cây Giáng sinh. Do vậy, khi những đứa trẻ đi ngủ vào đêm 24/12, một con nhện đã giăng tơ quanh cái cây. Sáng hôm sau, những sợi tơ của nó đều biến thành các sợi vàng, bạc lấp lánh.
Việc quấn các bóng điện quanh cây Noel và bật đèn cũng có nhiều giai thoại. Một trong số đó là vào năm 1880, nhà phát minh Thomas Edison đã đặt một số bóng đèn điện mới quanh văn phòng. Năm 1882, Edward Johnson, một đồng nghiệp của ông đã xâu chuỗi 80 bóng đèn với đủ màu đỏ, trắng, xanh lại với nhau và đặt chúng lên cái cây trong căn hộ của mình ở New York. Vào năm 1890, công ty của Edison đã công bố một dịch vụ mang tên: cung cấp ánh sáng cho cây Noel. Những người giàu thời đó thường đặt riêng các bóng đèn để trang trí, giá trị lên đến 2.000 USD thời nay.
Không chỉ nghiên cứu về lịch sử thắp sáng cây Noel, nhiều người còn tò mò về việc thời điểm nào là hoàn hảo để mua cây về nhà trang trí. Thông thường, mọi người sẽ bắt đầu trang trí cây thông khi mùa Vọng bắt đầu. Đây là thời điểm cách Giáng sinh 4 chủ nhật.
Năm nay, mùa Vọng bắt đầu vào ngày 3/12. Hiệp hội cây Giáng sinh Anh thì khuyên rằng mọi người nên mua cây từ ngày 1/12. Đây là thời điểm lý tưởng để mọi người bắt đầu bật đèn trang trí trên cây Noel. Cũng theo truyền thống, sau khi Giáng sinh kết thúc 12 ngày, cây sẽ được dỡ bỏ đồ trang trí và mang khỏi nhà.
Theo Anh Minh/Vnexpress

Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

Lý do số phát đại bác bắn chào nguyên thủ luôn là 21

Truyền thống bắn đại bác chào mừng nguyên thủ quốc gia có nguồn gốc từ Anh và không bao giờ dùng số chẵn vì sợ đen đủi.

Thông thường, trong các chuyến thăm cấp nhà nước, nghi thức chào đón một nguyên thủ quốc gia trang trọng nhất là bắn 21 phát đại bác. Truyền thống này được bắt nguồn từ nước Anh vào thế kỷ 17, theo Usmc.
Ban đầu, việc bắn đại bác được dùng với mục đích an toàn. Khi chiến hạm của một nước cập cảng nước khác, các khẩu pháo sẽ phải bắn hết đạn, để thể hiện sự thiện chí và không có ý định làm hại nước chủ nhà của khách.
ly-do-so-phat-dai-bac-ban-chao-nguyen-thu-luon-la-21
Năm 1818, nước Mỹ bắn 21 phát đại bác chào mừng tổng thống, vì tại thời điểm đó nước này có 21 bang. Ảnh: BI.
Số lần bắn đại bác từ các chiến hạm ban đầu là 7. Đến nay, con số 7 này vẫn còn là đề tài gây nhiều tranh luận. Nhưng theo Usmc, một trong những giả thuyết về con số 7 này là thời đó phần lớn tàu chiến Anh chỉ có 7 khẩu súng. Việc bắn 7 phát súng thể hiện thiện chí rằng "chúng tôi đã bắn hết đạn". Nhiều giả thuyết khác thì cho rằng số 7 liên quan đến kinh thánh. Đức Chúa nghỉ ngơi vào ngày thứ 7 (chúa nhật) sau khi tạo ra thế giới. Và số 7 còn tượng trưng cho việc tàu về cảng sau chuyến đi dài.
Sau khi phía tàu chiến bắn một phát súng, đại bác ở trên bờ sẽ bắn lại 3 phát để "đáp lễ". Số lần bắn từ bờ ra sẽ là 7x3=21. Và theo nhiều người, đây chính là khởi nguồn cho con số 21 phát đại bác chào mừng nguyên thủ quốc gia sau này.
Tuy nhiên vẫn có thắc mắc về số phát súng bắn lại không là 2 hay 4, để thành 7x2=14 hay 7x4=28. Ngay từ những năm 1685, các nhà cầm quyền đã cho rằng số lẻ thường may mắn hơn số chẵn. Việc bắn đại bác số chẵn để chào đón một ai đó thường mang ý nghĩa tiễn biệt người đứng đầu của một chiến hạm.
Việc bắn đại bác chào mừng tổng thống Mỹ trong lịch sử không phải lúc nào cũng là 21 phát. Năm 1812 và 1821, số phát súng chào mừng là 18 và 24. 
Kể từ năm 1841, số phát đại bác mà tổng thống được chào mừng là 21, phó tổng thống là 17. Hiện nay, phó tổng thống Mỹ được nhận lời chào bằng 19 phát đại bác.
Vào ngày 18/8/1875, Mỹ và Anh cùng công bố một thỏa thuận, trong đó ghi nhận các nguyên thủ quốc gia sẽ được chào mừng bằng 21 phát đại bác. Đây cũng là nghi lễ cao nhất dành cho người đứng đầu một đất nước. 
Anh Minh

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Chú lùn – thần giữ của & nghệ phẩm trang trí vườn tược

KTNĐ – Những chú lùn xinh xắn, ngộ nghĩnh trong Bạch Tuyết và bảy chú lùn là hình ảnh lưu lại trong ký ức trẻ thơ. Những chú lùn ấy những tưởng chỉ là sản phẩm sáng tạo của truyện cổ/phim hoạt hình, vậy mà nguồn gốc xa xưa là thần giữ của vốn được trang trí phổ biến nơi vườn tược các ngôi nhà ở châu Âu, với những tín niệm thiêng liêng.

h51  Từ gnome/thần lùn giữ của bắt nguồn từ tiếng Latin mới, gnomus. Chúng thường được cho là xuất phát từ ngôn ngữ Hy Lạp gnosis (kiến thức), nhưng đúng hơn là có gốc từ genomos “người ở đất”. Những thần lùn giữ của lần đầu tiên hiện diện trong văn hóa dân gian truyền thống của Bắc Âu, và vì vậy rất khó để xác định chính xác nguồn gốc của chúng. Vào thế kỷ 16, nhà thuật giả kim Thụy Sỹ Paracelsus phổ biến thần lùn giữ của khi ông biểu thị chúng là nền tảng tâm linh quan trọng nhất. Theo quan điểm của ông, các thần lùn giữ của biểu trưng cho đất, một cách cụ thể là đá, khoáng, và sở hữu năng lực siêu nhiên nối kết với các vật chất đó.
Hình tượng thần lùn giữ của được biến đổi theo thời gian và khác biệt nhau ở các nền văn hóa. Khởi đầu, đa số các thần lùn đều được mặc định là xấu xí, những sinh vật xấu xí, hiếm có hình dáng và tính cách của con người như thần lùn giữ của ngày nay. Thực tế, chúng gần với các yêu tinh nhỏ, những nàng tiên biến dạng và có hành vi gần với muông thú hơn con người. Trái lại, ngày nay các thần lùn giữ của thường được miêu tả nhỏ xíu, có hình dáng chắc khỏe, mập mạp và mang tính cách của con người, đội chiếc mũ hình nón cao và ăn mặc thuần nhất các màu như xanh da trời, đỏ hay xanh lá cây. Trong lối miêu tả này, nam thần lùn giữ của thường có bộ râu dài và trắng. Họ thông minh như một con người (đôi khi còn được cho là người khôn ngoan), và có những tính cách giống con người.
Trong khi vẻ bề ngoài có thể khác biệt thì những truyền thống cổ xưa hơn và mới hơn đều chia sẻ tín niệm tương tự nhau về năng lực của người lùn: họ được cho rằng dễ dàng di chuyển xuyên lòng đất như con người đi lại trên mặt đất; nhanh nhẹn và khỏe mạnh một cách đáng kinh ngạc; sở hữu hầu hết các năng lực siêu nhiên trong việc vận dụng vật chất tự nhiên; và là người canh giữ quyết liệt, chống lại những tổn hại đến trái đất và đời sống hoang dã.
h1
2  Giống nhiều linh vật dựa trên truyền thống truyền miệng, quan niệm về thần lùn giữ của ở mỗi nền văn hóa có đôi chút khác biệt. Những miêu tả dưới đây là các truyền thống phổ biến về thần lùn giữ của trên
khắp châu Âu.
Ở Thụy Điển, từ truyền thống để chỉ thần lùn giữ của là Tomte, từ những năm 1300. Chúng cũng được biết là Nisse ở Na Uy và Đan Mạch. Thần lùn giữ của được tin rằng sống đến 400 năm, rất cần cù, có lòng tốt, và khôn ngoan. Gia đình là quan trọng đối với họ và họ thường luôn vui vẻ. Các nữ thần lùn giữ của chỉ sinh  con một lần, thường là sinh đôi. Họ thường sống ở những vùng nông thôn, đôi khi thậm chí (hoặc dưới)  trang trại/nông trường, và sẽ cho người nông dân những lời khuyên hữu ích. Họ cũng được biết đến là  những người canh gác/bảo vệ thiên nhiên và thú vật. Mặc dù họ tử tế và ân cần với con người nhưng những thần lùn giữ của vẫn rất bí hiểm, họ không bao giờ cho phép con người biết đến hang sâu nơi họ cư trú, không dạy ngôn ngữ của họ cho bất kỳ ai khác và chỉ xuất hiện khi họ muốn.
Trong thời gian gần đây, các thần lùn giữ của được cho rằng là những người trợ giúp cho ông già Noel Santa Claus, và ở Scandinavia, những hình ảnh Giáng sinh thường mô tả các thần lùn giữ của trong vai trò những người bé tí hon ở những vùng đất phương Tây khác.
Ở Đức, thần lùn thường gặp trong những câu chuyện thần kỳ nước Đức, bao gồm những truyện cổ tích của anh em nhà Grimm. Thần lùn giữ của nước Đức giống như những ông già khó tính, hay cằn nhằn, sống sâu dưới đất, canh gác các châu báu được chôn cất bên dưới đó. Bởi vì điều này nên các chủ ngân hàng Thụy Sỹ đôi khi coi là những “Thần lùn giữ của Zurich”.
Ở Hà Lan, từ Kabouter để chỉ thần lùn. Trong thần thoại và văn hóa dân gian Hà Lan, Kabouters là những con người nhỏ xíu sống dưới đất hay một số khác là các thần linh của gia đình bảo trợ nhà cửa.
Nói chung, thần lùn là những con người rụt rè. Nam thần có râu nhiều và dài (không giống những chú  lùn/người lùn, họ thường không có nhiều râu), đội mũ chóp đỏ. Trong truyện dân gian Truyền thuyết
những chiếc giày gỗ Hà Lan, Kabouter đã dạy cho người Hà Lan cách làm nên những đôi giày gỗ.
h23  Muộn nhất là vào thời Phục hưng, tượng trang trí vườn tược trở nên phổ biến ở châu Âu. Trong loại
này có những nhân vật gobbi (người lùn hay người gù của Ý). Đặc biệt, Jacque Callot tạo nên 21 mẫu gobbi, khắc in vào năm 1616. Cuối thế kỷ XVIII, sản phẩm gốm sứ “Gia đình những chú lùn” bắt đầu sản xuất và trở thành vật phẩm trang trí phổ biến suốt thế kỷ XIX. Ngoài ra, còn có loại tượng thần lùn tạc bằng gỗ do Thụy Sỹ sản xuất ở thị trấn Brienz. Tuy nhiều người tuyên xưng, song có lẽ Baehr và Maresch ở Dresden đã sản xuất tượng thần lùn bằng sành đầu tiên vào năm 1841. Khoảng năm 1860, nhiều tượng do Grafenroda sản xuất tại thị trấn Thuringa (Đức) là tượng sành. Còn Philip Griebel sản xuất tượng thú bằng gốm đất nung để trang trí và sản xuất thần lùn giữ của dựa trên nội dung thần thoại địa phương về các thần lùn tốt bụng hay giúp đỡ trong các khu vườn vào ban đêm.
Sau khi những thần lùn đầu tiên được Phillip Griebel sản xuất ở Đức, sở thích này nhanh chóng trải rộng khắp cả nước Đức và lan đến Pháp, Anh, nơi đây thú chăm sóc vườn tược là rất quan trọng. Con cháu Griebel vẫn sản xuất những thần lùn và đó là các nhà sản xuất cuối cùng của Đức; sau này mọi sản xuất đều được chuyển sang Ba Lan hay Trung Quốc. Hiện nay, riêng ở Đức có đến 25 triệu tượng thần lùn.
Những thần lùn giữ của truyền thống thường được làm là đồ đất nung hay sành. Người ta dùng đất sét lỏng rót vào các khuôn. Khi chúng trở nên cứng hơn thì được lấy khỏi khuôn, phơi khô và nung trong lò. Chúng được để nguội và sơn phết từng chi tiết như mong muốn và gửi đến trang trí cho các khu vườn.
Hình ảnh thần lùn giữ của biến đổi khác xa hơn trong những năm 1960-1970, khi những thần lùn giữ của plastic đầu tiên được sản xuất. Những thần lùn giữ của này theo kiểu mẫu của miêu tả năm 1937 của bảy chú lùn trong Bạch Tuyết và bảy chú lùn của Disney. Các hình ảnh thần lùn giữ của của Disney được xây dựng từ những minh họa trong sách trẻ em cổ điển The secret book of Gnomes (1976), trong nguyên bản Hà Lan Leven en werken van de Kanouter.
Ngoài ra, lễ diễu hành thần lùn giữ của còn được cử hành hằng năm tại lễ hội công viên Inman của Atlanta. Một số lượng lớn các thần lùn giữ của diễu hành chỉ xảy ra một lần được tổ chức, bao gồm ở Savannah, Georgia (4-2012) và Cleveland, Ohio (5-2011). Nói chung, đến nay hình tượng thần lùn phổ biến hầu như
khắp các nơi trên thế giới. Có điều, ở các nơi xa với nguồn đất nguồn cội, chúng là vật phẩm mỹ nghệ hơn là đối tượng tín ngưỡng.
h3
Tài liệu tham khảo:
1. Wil Huygen. Gnomes. Harry N. Abram, 1977
2. Wil Huygen. The complete gnomes. Harry N. Abram, 1994
3. Wil Huygen, Rien Poortvliet. Secrets of the Gnomes. Harry N. Abram, 1987
4. Russell, Vivian. Gnomes. Frances Lincoln, 2006.
5. Way, Twigs. Garden gnomes, a history. Botley, Oxfordshire: Shire, 2009
6. Traeger, Karin. How a gnome is born. Zwergli from Griebel, 2007.
BÀI: HUỲNH THANH BÌNH
ẢNH: TƯ LIỆU

Tạp chí Kiến Trúc Nhà Đẹp – số tháng 12.2016

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2017

Vì sao Valentine rơi vào ngày 14/2?

Ngày 14/2 đánh dấu sự hy sinh của Thánh Valentine trong quá trình bảo vệ tình yêu đôi lứa, bắt nguồn từ thời La Mã cổ đại.

14/2 hàng năm được gọi là ngày lễ tình yêu, hàng triệu đôi lứa trao nhau những món quà ngọt ngào như hoa hồng và chocolate. Trước đây, ngày Valentine chỉ phổ biến ở Bắc Mỹ và châu Âu nhưng hiện nó được chào đón ở hầu hết quốc gia trên thế giới.

Không ai biết lý do chính xác ngày 14/2 được gọi là ngày Valentine. Truyền thuyết phổ biến nhất xoay quanh vị Thánh Valentine hơn 1.000 năm trước, xuất hiện dưới thời La Mã cổ đại. Tuy nhiên, theo Bách Khoa toàn thư Công giáo, có tới 3 vị Thánh tên Valentine lúc bấy giờ, một ở Rome, một ở Terni và một người được nhìn thấy lần cuối ở châu Phi. Điều kỳ lạ là cả 3 người đều tử vì đạo vào ngày 14/2.
vi-sao-valentine-roi-vao-ngay-14-2
14/2 là ngày tôn vinh tình yêu đôi lứa. Ảnh: wallpaper.
Năm 270 trước Công nguyên (TCN), dưới thời trị vì của vua Claudius II, đế chế La Mã tham gia vào nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu và rơi vào giai đoạn khó khăn. Để có thể tuyển mộ được nhiều quân lính, nhà vua cấm đàn ông trẻ tuổi kết hôn. Theo Claudius, đàn ông có tình cảm gia đình ràng buộc sẽ không thể trở thành người lính tốt bởi hôn nhân làm đàn ông yếu đuối. Do đó, Claudius ban hành đạo luật cấm tất cả đàn ông kết hôn khiến mọi người phẫn nộ.
vi-sao-valentine-roi-vao-ngay-14-2-1
Hẹn hò ngày Valentine không thể thiếu hoa hồng, rượu vang và chocolate. Ảnh:Listcafe.
Cấm kết hôn trở thành cú sốc lớn với người La Mã nhưng không ai dám lên tiếng phản đối tên bạo chúa. Trước tình cảnh ấy, một vị linh mục nhân ái tên Valentine đã bí mật tổ chức hôn lễ cho các cặp tình nhân trong nhà thờ. Tuy nhiên, sự việc bị bại lộ một thời gian sau đó khiến Claudius khép ông vào tội tử hình.
Trong thời gian sống trong tù, Valentine đã giúp chữa lành đôi mắt mù loà của con gái viên cai ngục Asterius tên Julia. Trước khi ra pháp trường ngày 14/2 năm 270 TCN, ông đã gửi cho cô gái tấm thiệp ký tên “dal vostro Valentino” - “from your Valentine” (Từ Valentine của em). Từ đó, ngày lễ Valentine ra đời như sự tưởng nhớ đến công lao của vị linh mục trong việc bảo trợ tình yêu con người. Cụm từ “from your Valentine” cũng thường xuyên được sử dụng trong các tấm thiệp ngày nay.
Hải Thu  

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

Du thuyền xa hoa gần 100 năm trước

Vào đầu thế kỷ 20, con người đã có thể vượt đại dương trên các du thuyền được trang bị phòng tập gym, bể bơi, dịch vụ gọi điện, khám bệnh, giặt là...
Trước đây, du lịch bằng đường biển là một thú chơi xa hoa. Những chiếc du thuyền được thiết kế tỉ mỉ đến từng chi tiếp như cầu thang, đèn chùm, bàn ghế... tương tự như các khách sạn đẹp nhất trên đất liền. Ảnh: Wiki.
 
Du khách có cả người phục vụ làm công việc mở hành lý tại phòng. Ảnh: Cunard.
 
Trước khi có máy bay, du lịch bằng thuyền là cách duy nhất giúp con người đi xa. Mọi người có thể giành vài tháng liền trên thuyền. Trong hình là diễn viên Greta Garbo và nhà làm phim Mauritz Stiller, chụp trên hải trình từ châu Âu tới Mỹ năm 1925. Ảnh: Wiki.
 
Trên những chiếc du thuyền xa hoa của gần 100 năm trước cũng được trang bị phòng tập thể hình với nhiều dụng cụ tập khác nhau. Ảnh: Wiki.
 
Ngoài ra thuyền còn có bể bơi và cả đài phun nước nhỏ. Ảnh: Cunard.
 
Khi chưa có internet và smartphone để tiêu khiển, khách trên du thuyền vẫn có nhiều cách giải trí khác nhau, từ chơi các môn thể thao, cho tới tổ chức sàn đấm bốc. Ảnh: Cunard.
 
Để tiêu tốn thời gian hơn nữa, những bữa ăn trên du thuyền thường kéo dài và có thêm nhiều sự kiện. Ảnh: Wiki.
 
Khu vực ăn uống rộng rãi được bố trí giống nhà hát opera hơn. Ảnh: Cunard.
 
Trên một du thuyền có nhiều lounge - khu vực cho du khách nghỉ ngơi, thư giãn, trò chuyện cùng bạn bè người thân, thưởng thức nhạc sống. Ảnh: Cunard.
 
Mặc dù ở giữa đại dương, các du thuyền cũng có những tiện ích như trên đất liền, ví như dịch vụ gọi điện thoại, giặt là, khám chữa bệnh... Ảnh: Cunard.
 
Trẻ em cũng có không gian chơi riêng bày biện nhiều đồ chơi khác nhau. Ảnh: Cunard.
 
Phòng ngủ trên du thuyền vừa ấm cúng vừa có không gian rộng rãi, có giường đơn lẫn giường đôi tùy yêu cầu của khách. Những phòng ngủ có giá ít tiền hơn vẫn có thiết kế trang nhã, gọn gàng với giường tầng. Ảnh: Cunard.
 
Hương Chi (theo Insider)

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Những nơi người Sunni và Shiite sinh sống trên thế giới

Cái chết của Nhà tiên tri Mohammed, người sáng lập ra Hồi giáo, khiến cộng đồng người theo tôn giáo này bắt đầu chia thành hai dòng Sunni và Shiite dựa theo cách họ chọn người lãnh đạo mới.

Những nơi người Sunni và Shiite sinh sống trên thế giới
Đồ họa: colombia.edu
Cái chết của Nhà tiên tri Mohammed, người sáng lập ra Hồi giáo, khiến cộng đồng người theo tôn giáo này bắt đầu chia thành hai dòng Sunni và Shiite dựa theo cách họ chọn người lãnh đạo mới.



A special forces soldier stands as Sunni and Shi'ite worshippers, together with Emir Sheikh Sabah al Ahmed al Sabah, pray at the Grand Mosque of Kuwait, in Kuwait City, July 3, 2015.
Người Hồi giáo dòng Sunni và Shiite cùng cầu nguyện tại Đại Thánh đường Kuwait, thủ đô Kuwait City, Kuwait ngày 3/7/2015. Ảnh: Reuters.
Người Hồi giáo chia thành hai nhánh chính, dòng Sunni và Shiite. Sự chia rẽ này bắt nguồn từ bất đồng liên quan đến việc quyết định ai sẽ là người lãnh đạo cộng đồng người Hồi giáo sau khi Nhà tiên tri Mohammed, người sáng lập ra tôn giáo này, qua đời năm 632, BBC cho biết.
Một số người cho rằng lãnh đạo mới phải được chọn dựa trên nguyên tắc đồng thuận, số khác giữ quan điểm chỉ có hậu duệ của nhà tiên tri mới có thể trở thành caliph, tức người lãnh đạo.
Phần lớn các tín đồ cho rằng vị trí caliph nên dành cho Abu Bakr, tín hữu và là một trong những trợ lý đáng tin cậy của Nhà tiên tri Mohammed. Ông còn là cha của Aisha, vợ nhà tiên tri. Những tín đồ này sau đó trở thành người Hồi giáo dòng Sunni.
Nhóm khác cho rằng Ali, người anh em họ và là con rể của nhà tiên tri, từng được ông xức dầu thánh mới xứng làm caliph. Những người này sau này được gọi là Shia, hay Shiite, rút gọn từ "shiaat Ali", tức "những người theo Ali".
Những người ủng hộ Abu Bakr đã giành chiến thắng khi danh hiệu caliph được trao cho ông. Tuy nhiên, Ali cuối cùng cũng trở thành caliph đời thứ tư sau khi hai người kế nhiệm Abu Bakr bị ám sát. Ali sau đó cũng bị ám sát bằng một thanh kiếm tẩm độc tại nhà thờ ở Kufa, nằm tại Iraq ngày nay. Hai con trai của ông là Hasan và Hussein lần lượt trở thành người lãnh đạo.
Hussein và nhiều họ hàng bị thảm sát ở Karbala, Iraq, năm 680 bởi một đội quân của một caliph dòng Sunni, khiến sự chia rẽ càng thêm sâu sắc. Sự tử vì đạo của Hussein trở thành nguyên lý trung tâm đối với những người tin rằng Ali là người thừa kế nhà tiên tri.
Theo New York Times, người Sunni chiếm hơn 85% trong 1,5 tỷ người Hồi giáo trên thế giới. Họ sinh sống chủ yếu tại các quốc gia Arab và Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Malaysia và Indonesia. Người Shiite chiếm phần lớn dân số tại các nước như Iran, Iraq, Bahrain.
Toàn bộ người Hồi giáo trên thế giới hôm nay đều công nhận rằng Allah là Đấng tối cao duy nhất và Mohammed là sứ giả của ngài. Họ tuân theo 5 nghi thức trụ cột của Hồi giáo, trong đó có tháng ăn chay Ramadan và dùng chung kinh thánh Koran.
Người Sunni phụ thuộc rất nhiều vào thực hiện theo các bài giảng của nhà tiên tri trong khi người Shiite tin các thủ lĩnh ayatollah của họ là hiện thân của Đấng tối cao trên mặt đất. Điều này dẫn đến việc người Sunni cáo buộc người Shiite tôn thờ dị giáo. Người Shiite tố chính chủ nghĩa giáo điều Sunni đã làm hình thành các giáo phái cực đoan như dòng Wahhabi, The Economist cho biết.
Arab Saudi và Iran, hai quốc gia do người dòng Sunni và Shiite lãnh đạo tại Trung Đông, thường ở hai phía ngược nhau trong những cuộc xung đột khu vực. Ở Yemen, Houthis, phiến quân dòng Shiite đến từ miền bắc lật đổ chính quyền dòng Sunni khiến liên minh do Arab Saudi dẫn đầu phải can thiệp.
Tại Syria, nơi phần lớn dân số là dòng Sunni, Tổng thống Bashar al-Assad thuộc nhánh Alawite dòng Shiite đang cố gắng giữ chính quyền trong cuộc nội chiến kéo dài gần 5 năm. Tại Iraq, sự bất đồng giữa chính quyền dòng Shiite và cộng đồng người Sunni đã tạo điều kiện cho phiến quân Nhà nước Hồi giáo (IS) giành nhiều thắng lợi.
Tuy nhiên, không phải tất cả người dòng Sunni đều thù ghét dòng Shiite. Theo TestTube News, người Hồi giáo thuộc hai dòng trên cùng sinh sống hòa bình tại một số khu vực như Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) hay thành phố Dearborn, bang Michigan, Mỹ.
Như Tâm

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

Đám cưới Gỗ sồi


 Theo phong tục phương Tây, người ta tổ chức kỷ niệm ngày cưới theo những cột mốc như thế nào? Vì sao kỷ niệm 80 năm ngày cưới gọi là Đám cưới Gỗ sồi? (Trần Thị Mỹ Hạnh, Hải Châu, Đà Nẵng).
- Ngày kỷ niệm cưới là ngày để kỷ niệm lễ cưới theo số năm sống chung của một đôi vợ chồng; bạn bè, người thân có thể gửi cho đôi vợ chồng những món quà thích hợp cho số năm kết hôn của họ. Những món quà này khác nhau ở mỗi nước. Ví dụ cùng kỷ niệm 10 năm ngày cưới, nhưng ở Liên hiệp Anh gọi là Lễ kỷ niệm Nhôm (Đám cưới Nhôm) còn ở Mỹ gọi là Lễ kỷ niệm Thiếc (Đám cưới Thiếc).
Dưới đây là liệt kê loại quà tặng kỷ niệm ngày cưới theo từng năm, cả truyền thống lẫn hiện đại, biên soạn tại Thư viện Công cộng Chicago (dẫn lại theo Wikipedia):
Xếp cuối bảng kê trên là Đám cưới Kim cương với 60 năm và Đám cưới Bạch kim với 70 năm chung sống. Vậy, những cặp vợ chồng sống với nhau đến 80 năm thì kỷ niệm đám cưới gì? Có ý kiến đưa ra là Đám cưới Gỗ sồi, nhưng chưa thấy giải thích vì sao như thế.
Theo chúng tôi, người ta chọn gỗ sồi cho kỷ niệm 80 năm ngày cưới (trên cả bạch kim) là do tính chất của danh mộc nước Mỹ này. Gỗ sồi (oak) có hai loại đỏ và trắng, về độ cứng thì tương đương nhau, nhưng gỗ sồi trắng cứng và nặng, chịu lực nén tốt, tâm gỗ có khả năng kháng sâu mọt, chống mục nát.
Cây sồi đã được một người đàn ông ở Anh trồng thành rừng để tưởng nhớ đến người vợ quá cố của mình, như tin đã đưa trên vov.vn ngày 17-7-2012 vừa qua.
Ông Winston Howes, 70 tuổi ở Wichwar, Gloucestershire, đã trồng 6 nghìn cây sồi để tạo thành hình trái tim khổng lồ trên đồng cỏ. 17 năm trước, ngay sau khi vợ mất, ông làm sạch cánh đồng cỏ rộng hơn 6 mẫu và bỏ ra một tuần để trồng 6.000 cây sồi non theo hình trái tim để tưởng nhớ vợ. Tuy nhiên, ông lại giấu gia đình và chỉ khi một người bay bằng khinh khí cầu chụp được ảnh rừng cây đặc biệt này thì nó mới được phát hiện.
Ông bà Winston và Janet cưới nhau năm 1962; bà Janet qua đời năm 1995 vì bệnh tim. Tuy cả hai không chung sống với nhau đến 80 năm nhưng rừng cây sồi hình trái tim ấy là cả một câu chuyện tình yêu, là lời cầu chúc tốt đẹp ông gửi đến bà trong một Lễ kỷ niệm Gỗ sồi đầy mơ ước.
ĐNCT

Thứ Tư, 23 tháng 1, 2013

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng


Rất có thể khi xem xong, ai cũng muốn được quay lại thời thơ ấu...

NHÀ TRẺ

Nhà trẻ Ecole Maternelle Pajol ở Paris (Pháp) được thiết kế lại từ một toà nhà được xây dựng năm 1940. Giữ nguyên kiến trúc và chỉ thay đổi lại màu sắc cùng nội thất, nhà trẻ đã biến thành một "vườn cổ tích" đúng nghĩa dành cho những "mầm non".

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 1

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 2

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 3

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 4

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 5

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 6

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 7

TRƯỜNG HỌC

Trường tiểu học Erika-Mann ở Berlin (Đức) được thiết kế đặc biệt: trẻ em có thể chơi đùa, sáng tạo, học tập, vui chơi ở bất cứ địa điểm nào các em muốn trong khuôn viên.

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 8

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 9

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 10

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 11

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 12

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 13

CÔNG VIÊN

Thiết kế công viên Blaxland Riverside ở Sydney (Australia) là một ví dụ cho sự vui chơi "thả phanh" dành cho trẻ em: nơi các em có thể "đào bới", khám phá, bay nhảy, tung tăng trên đồng cỏ, cầu trượt, dây văng...

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 14

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 15

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 16

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 17

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 18

Ngắm những "không gian trẻ thơ" đầy mơ mộng 19

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử


Đền Gobekli Tepe, sách giấy ở Oxyrhynchus, thư viện Ashurbanipal...

Lịch sử vẫn luôn che đậy những điều kỳ bí. Chính những phát hiện khảo cổ đã hé lộ những tia sáng hiếm hoi về thế giới của người cổ xưa, thời kỳ tổ tiên loài người.

1. Thành Troy

Chắc hẳn nhiều người đều biết đến hai trường thi nổi tiếng của Homer: Iliad và Odyssey. Trong hai tác phẩm đó có nhắc tới một địa danh nổi tiếng đi vào nhiều bộ phim điện ảnh - thành Troy. Tuy nhiên, cho đến tận thế kỷ XIX, hầu hết mọi người vẫn cho rằng, Troy chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng. 

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 1
Vào năm 1871, một nhà thám hiểm người Đức khi tiến hành khai quật di chỉ Hissarlik đã phát hiện ra những phần còn sót lại của thành Troy. 

Tại đây, họ không chỉ tìm thấy được những kho báu huyền thoại có tuổi thọ lên đến 1.000 năm mà còn biết được nguyên nhân chính khiến cho thành Troy biến mất. Nguyên nhân không phải là chiến tranh mà chính là động đất. 

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 2

Không những thế, từ phát hiện này, các nhà khoa học đã có đủ cơ sở để chứng minh, cuộc chiến thành Troy thật sự tồn tại và Homer đã chọn lấy một vài sự kiện trong đó để sáng tạo thành thiên sử thi bất hủ.

2. Sách giấy ở Oxyrhynchus

Oxyrhynchus là một thành phố ở phía Nam của Ai Cập thời cổ đại. Oxyrhynchus có một điều đặc biệt khiến cho các nhà khảo cổ phải “dở khóc dở cười”, đó là phần lớn các tư liệu có giá trị ở đây đều được tìm thấy trong những hố rác cổ.

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 3
Trong quá khứ, những người dân nơi đây sau khi sử dụng xong các văn bản viết, họ thường vứt chúng vào các hố rác được đào sẵn. 

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 4

Nhưng không ai ngờ, những thứ tưởng chừng như vứt đi đó lại được bảo quản rất tốt trong sa mạc khô nóng và trở thành kho báu vô giá đối với lịch sử loài người. Hiện nay, các nhà khảo cổ đang huy động rất nhiều nguồn lực để tiếp tục tìm kiếm những tài liệu trong các hố rác này.

3. Thư viện Ashurbanipal

Một bộ sưu tập khoảng 25.000 mảnh vỡ đất sét là những thứ còn sót lại từ thư viện của Ashurbanipal. Thư viện này được phát hiện vào giữa thế kỷ XIX bởi Austen Henry Layard tại thành phố Mesopatamian của Nineveh (nay là Iraq). 

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 5

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 6
Đây từng là một trong những thư viện lớn nhất trong thời gian đó, chứa khoảng 1.200 văn bản. Những văn bản này bao gồm các văn bản hoàng gia, biên niên sử, thần thoại, tôn giáo, câu thần chú, các bài thánh ca, y học, thiên văn học, văn chương và quan trọng hơn chính là rất nhiều thông tin quý giá về các cư dân cổ xưa của vùng Trung Đông.

4. Nền văn minh Indus

Là một trong ba nền văn minh cổ xưa nhất nổi lên bên cạnh con sông, nhưng khác với nền văn minh sông Nile và Lưỡng Hà chưa bao giờ bị lãng quên, mãi đến tận thế kỷ XX nền văn minh Indus mới được tìm thấy.

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 7
Các phát hiện khảo cổ cho thấy, một thành phố tiên tiến đã được xây dựng dọc theo con sông Indus, cùng với đó là các dấu hiệu về khoa học, chữ viết và công nghệ có thể được tìm thấy trong đống đổ nát của thành phố này. 

Nguyên nhân vì sao thành phố này biến mất vẫn không rõ, nhưng theo các bằng chứng để lại, nền văn minh này đã bị phá hủy bởi chính các con sông đã nuôi sống họ.

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 8

Nhưng điều đặc biệt là qua những gì tìm được ở đây, ta có thể thấy một mức độ công bằng xã hội khá cao. Nếu điều này là đúng thì dường như xã hội thời kỳ này đã có một bước nhảy vọt đáng kể so với các nền văn minh cùng thời điểm đó. Đây là một điều vô cùng ý nghĩa đối với các sử gia ngày nay.

5. Đền Gobekli Tepe

Đền Gobekli Tepe đã thay đổi hoàn toàn cái nhìn của các nhà khảo cổ về quá khứ. Với niên đại 12.000 năm, kiến trúc này xuất hiện trước bất kỳ một nền văn minh nào được biết đến, đây được cho là công trình lâu đời nhất do con người tạo ra đến tận bây giờ.

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 9
Địa điểm này nằm trên một đỉnh đồi ở Thổ Nhĩ Kỳ, có 20 vòng và hiện đã được khai quật 4 trong số đó. Mỗi vòng có đường kính từ 10 - 30m, được trang trí chủ yếu bằng những cây cột đá vôi lớn hình chữ T cao khoảng 2,4m và nặng tới 7 tấn.

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 10

Hầu hết các cột được trang trí với các phù điêu các loài vật và những hình trừu tượng. Các mô hình trừu tượng thể hiện các biểu tượng linh thiêng thường thấy ở các bức tranh hang động thời kỳ Đồ Đá mới. Những bức phù điêu tượng trưng được đẽo gọt công phu với sư tử, bò, lợn rừng, cáo, nai, lừa, rắn và các loài bò sát, côn trùng, nhện, chim.

Những phát hiện khảo cổ quan trọng trong lịch sử 11