Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Mali. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Mali. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Kỳ quan khó tin trên vách đá Bandiagara của châu Phi

(Kiến Thức) - Hệ thống kiến trúc đồ sộ ở vách đá Bandiagara đã phản ánh sự khéo léo trong kỹ thuật xây dựng và nét đặc sắc văn hóa của cư dân bản địa.
Ky quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi
Nằm ở khu vực Mopti, Mali, vách đá Bandiagara được coi là một trong những cảnh quan ấn tượng nhất ở khu vực Tây PhiKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-2
Nét độc đáo của vách đá này là sự kết hợp của hình thái địa chất khác lạ và quần thể kiến trúc bản địa được xây dựng rất kỳ côngKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-3
Đây vốn là một vùng đá sa thạch được hình thành từ kỷ Cambri và kỷ Ordovic. Sự xói mòn của thời tiết cùng các vận động địa chất đã tạo nên những hang động ăn sâu vào vách đáKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-4
Con người đã sinh sống ở nơi đây từ thời kỳ đồ đá cũ, họ sống hòa nhập với cảnh quan thiên nhiên, ở các hang núi trên các vách đáKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-5
Dựa vào các hang động này, vào thế kỷ 15, cộng đồng dân cư bản địa đã biến vách đá Bandiagara thành một ngôi làng với hàng chục nóc nhà
Ky quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-6
Các công trình ở nơi đây bao gồm nhà ở, kho thóc, bàn thờ tổ tiên, thánh đường, nghĩa trang và Togu Na (nhà cộng đồng), trong đó nhiều nhất là nhà ở và các kho thócKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-7
Mỗi công trình đều có thể đảm nhiệm vai trò của một công sự phòng thủ khi cần thiếtKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-8
Nguyên liệu để xây ngôi làng kỳ vĩ ở Bandiagara là những vật liệu tự nhiên như bùn, đất sét, đá, gỗ... khai thác ngay tại cao nguyên đá nàyKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-9
Hệ thống kiến trúc hoàn chỉnh này đã phản ánh sự khéo léo trong kỹ thuật xây dựng, trình độ tổ chức xã hội cũng như nét đặc sắc văn hóa của các cư dân BandiagaraKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-10
Vào thời kỳ thịnh vượng khu vực này là một trong những trung tâm chính của các nền văn hóa vùng DogonsKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-11
Ngày này, khu dân cư trên vách đá Bandiagara đã bị bỏ hoang hoàn toàn vì nhiều nguyên nhân khác nhauKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-12
Dù vậy, quần thể kiến trúc ở nơi đây vẫn được bảo tồn khá tốtKy quan kho tin tren vach da Bandiagara cua chau Phi-Hinh-13
Vào năm 1989, vách đá Bandiagara đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới
T.B (tổng hợp)

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Độc đáo lăng mộ hoàng gia vương quốc Sonhai ở Tây Phi

(Kiến Thức) - Mang phong cách kiến trúc đặc sắc, lăng mộ hoàng gia Askia là bằng chứng về sức mạnh và sự giàu có của đế chế Songha thế kỷ 15, 16.
Doc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi

Nằm ở thành phố Gao của đất nước Mali, lăng mộ hoàng gia Askia là khu di tích quan trọng nhất và được bảo tồn tốn nhất của đế chế Songhai ở Tây Phi thời Trung cổ.Doc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-2

Lăng mộ này là một cấu trúc hình kim tự tháp được xây dựng vào năm 1495 tại vùng Gao dưới thời hoàng đế Askia Mohammad I của SonghaiDoc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-3

Công trình được xây dựng với nguyên liệu là bùn thạch cao, nguyên liệu truyền thống được các dân tộc Tây Phi sử dụng trong phong cách kiến trúc Sudano Sahel.Doc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-4

Quần thể bao gồm ngôi mộ hình kim tự tháp, hai nhà thờ và một khu nghĩa trang Hồi giáo được xây dựng khi Gao trở thành thủ đô của Songhai và Askia Mohammad I trở về từ thánh địa Mecca đã chọn Hồi giáo là tôn giáo chính thức.Doc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-5

Ngôi mộ hình kim tự tháp nằm ở trung tâm khu quần thể lăng mộ, các mặt bên là các giàn giáo bằng gỗ còn sót lại và các dòng chữ điêu khắc. Phía Đông của lăng mộ có một cầu thang quanh co dẫn đến đỉnh của kim tự tháp.Doc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-6

Hai nhà thờ Hồi giáo có kiến trúc mái bằng nằm ở phía Đông của ngôi mộ với một sảnh cầu nguyện lớn dành cho nam giới. Mái nhà và các cột gỗ được trát bùn.
Doc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-7

Lăng mộ Askia là bằng chứng về sức mạnh và sự giàu có của đế chế Songha thế kỷ 15, 16 nhờ hoạt động kiểm soát thương mại vùng sa mạc Sahara, nhất là về muối và vàng.Doc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-8

Trong suốt triều đại, Gao cùng với Timbuktu (thủ đô Mali ngày nay) trở hai trung tâm văn hóa, tôn giáo lớn nhất của khu vực Tây Phi, gắn chặt chẽ với các khu vực lân cận như Bắc Phi, Trung Đông, châu ÂuDoc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-9

Đến thế kỷ 16, đế chế Songhai bắt đầu suy tàn do xung đột nội bộ và việc con đường thương mại qua sa mạcbị thay thế bằng những tuyến đường biển qua Tây Phi.Doc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-10

Vào năm 2004, lăng mộ Askia được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.Doc dao lang mo hoang gia vuong quoc Sonhai o Tay Phi-Hinh-11

Tuy nhiên, đến năm 2012 công trình này đã bị đưa vào danh sách Di sản thế giới bị đe dọa do các tác động từ khí hậu khắc nghiệt của khu vực

T.B (tổng hợp)

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Timbuktu - thành phố vàng bên sa mạc Sahara

Ẩn trong những cơn bão cát của sa mạc Sahara là huyền thoại về một thành phố cổ từng được mệnh danh là El Dorado của châu Phi - Timbuktu. 
Từ "Timbuktu" (hay Timbuctoo, Tombouctou) được sử dụng để chỉ một nơi huyền bí nào đó ở rất xa. Thế nhưng, đây là tên chỉ một thành phố có thật thuộc Mali, châu Phi. Nằm rìa sa mạc Sahara và bên bờ sông Niger, thành phố này từng là trung tâm sầm uất của những tuyến đường giao thương quan trọng.
timbuktu-06-3125-1439956420.jpg
Thành phố Timbuktu từng là nút giao thương quan trọng của cư dân vùng sa mạc Sahara. Ảnh: All World Towns.
Thành phố được xây dựng bởi những người du mục từ thế kỷ 12. Với sự phát triển nhanh chóng, đến thế kỷ 14, câu chuyện về sự giàu có của Timbuktu được lan truyền khắp nơi. Tất cả bắt đầu từ năm 1324, khi hoàng đế của Mali đi ngang qua Cairo, Ai Cập để hành hương đến Mecca. Khi được các thương nhân Cairo hỏi về số lượng vàng lớn mà hoàng đế mang theo, ông trả lời rằng nó được lấy từ Timbuktu.
Đến năm 1354, nhà thám hiểm người Hồi giáo Ibn Batuta đã viết về Timbuktu như một thành phố giàu có với rất nhiều vàng. Từ đấy, Timbuktu được biết đến như một thành phố vàng huyền thoại - El Dorado của Phi châu. Đến thế kỉ 15, nơi đây cũng trở thành trung tâm nghiên cứu Hồi giáo với số lượng dân cư trong khoảng 50.000 đến 100.000 người, chủ yếu là học sinh, sinh viên. 
01-prophets-mosque-diagram-714-9568-1439
Nơi đây chứa nhiều sách quý thời Trung Cổ - minh chứng cho một kho tàng kiến thức khổng lồ nằm trong lòng "thành phố vàng". Ảnh: Brent Stirton.
Nhưng với người phương Tây thời bấy giờ, Timbuktu vẫn ẩn chứa nhiều bí mật. Những người không theo Hồi giáo, kể cả các nhà thám hiểm, đều bị cấm không được đặt chân tới đây. Cùng với sự biến mất bí ẩn của các đoàn thám hiểm châu Âu, nhiều người xem nơi đây là một thành phố huyền bí. 
Sự bí ẩn khởi đầu vào năm 1618, khi một công ty London cử 2 đoàn đến Timbuktu nhằm thiết lập giao dịch thương mại. Đoàn đầu tiên bị thảm sát không còn một người, còn đoàn thứ hai đi thuyền lên sông Gambia và cũng không thể đến được thành phố vàng. Đến giữa những năm 1700 và 1800, nhiều đoàn thám hiểu lên đường đến với Timbuktu nhưng không một ai trở về.
Năm 1805, bác sĩ Mungo Park, người Scotland quyết định lên đường đến Timbuktu cùng một đoàn gồm cả người châu Âu và bản địa. Tuy nhiên, đoàn không thể đến với thành phố khi các thành viên đều thiệt mạng hoặc bỏ cuộc trên đường đi. Mungo Park tiếp tục cuộc hành trình một mình trên dòng sông Niger, ngày một điên loạn. Không ai biết Mungo đi đến đâu, và xác của ông vẫn luôn là một bí ẩn. 
Thế nhưng, từ năm 1825, nơi đây đón nhận nhiều chuyến viếng thăm của các nhà thám hiểm châu Âu. Đến cuối thế kỷ 19, Timbuktu còn trở thành căn cứ chiếm đóng của quân đội Pháp. 
timbuktu-02-8727-1439956420.jpg
Giờ đây Timbuktu trở thành một thành phố hoang vắng. Ảnh: All World Towns.
Từ thế kỷ thứ 16, khi tuyến giao thương chuyển sang đường biển ở Đại Tây Dương, nơi đây dần mất đi sự hào nhoáng mà chỉ để lại những câu chuyện mất tích bí ẩn. Timbuktu trở thành một thành phố hoang vắng và bị cô lập giữa những cồn cát khổng lồ.
Tuy nhiên, vẻ đẹp hoang sơ của thành phố cổ bí ẩn này cùng kho tàng kiến thức thời trung cổ được cất giữ trong trường đại học và thư viện vẫn thu hút hàng nghìn du khách mỗi năm. Một sân bay cũng được xây dựng tại Timbuktu để phục vụ cho ngành du lịch.
Vân Giang (theo About)

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Vùng đất đặc biệt của một bộ tộc lạ lùng ở châu Phi

(VTC News) – Cao nguyên Mopti của Mali (châu Phi), người Dogon với nền văn hóa độc đáo và kỳ lạ, đã sinh sống tách biệt suốt nhiều thế kỷ.
Bộ tộc Dogon của đất nước Mali, châu Phi chỉ có số lượng không đầy một triệu người.


Họ sinh sống tách biệt trên cao nguyên Mopti qua nhiều thế kỷ, gìn giữ những giá trị văn hóa độc đáo mà tổ tiên đã xây dựng suốt hàng trăm năm qua.
 Một trong những truyền thống văn hóa có giá trị của người Dogon là những công trình kiến trúc bằng đá núi hết sức kỳ lạ và độc đáo.
 Trong đó có rất nhiều các khu định cư và các công trình phòng thủ được xây dựng ngay trên vách đá.
 Lịch sử thường xuyên bị xâm lược bởi những cộng đồng khác đã khiến cho người Dogon quyết định xây nhà giữa các vách đá cheo leo hiểm trở.
 Họ chọn những vách núi sa thạch để định cư, trải qua nhiều thế hệ đã xây dựng nên những hệ thống kiến trúc, làng mạc vô cùng độc đáo.
 Nghệ thuật vẽ tranh trên đá cũng xuất hiện từ hàng trăm năm trước, phản ánh cuộc sống tinh thần và tín ngưỡng của những người Dogon.
 Sau khi đất nước Mali giành được độc lập, những người Dogon cũng dần chuyển xuống sinh sống tại những khu vực màu mỡ hơn dưới chân núi.
 Những kho thóc được đắp bằng đất là hình ảnh không thể thiếu tại các ngôi làng của người Dogon
 Người dân trong làng cùng cất giữ lương thực và hạt giống của mình trong những nhà kho công cộng như thế.
 Những nhà kho có mái nhọn như thế này được gọi là kho thóc “nam”, nơi lưu trữ kê và các loại ngũ cốc quan trọng. Phụ nữ cũng có những nhà kho riêng, họ độc lập về kinh tế đối với chồng mình.
 Ngoài ra trong làng còn có những ngôi nhà chỉ dành cho nam giới tụ họp và bàn bạc các công việc quan trọng, gọi là toguna
 
 Những toguna có mái rất thấp, đến nỗi người ta không thể đứng lên trong nhà. Điều này được lý giải là để hạn chế xung đột khi các cuộc tranh luận giữa những người đàn ông trở nên gay gắt.
 Những ngôi nhà quan trọng nhất trong làng được gọi là ginna, thường chỉ dành cho những người lãnh đạo hoặc sáng lập làng.
 Những người được tôn kính nhất trong làng sinh sống và trông coi các ginna.
 Ngoài ra ginna cũng là nơi để thờ cúng tổ tiên và các vị thần linh, được gọi chung là Wagem – một tôn giáo sơ khai mà phần lớn người Dogon thờ phụng.
 Phía ngoài ngôi làng, tại những vị trí trọng yếu thường là các công trình phòng thủ có dáng dấp như những tháp canh tựa vào vách đá.
 Phần lớn những tháp canh này giờ đây đã không còn được sử dụng.
 Mỗi làng có một người lãnh đạo tinh thần, gọi là Hogon. Người này được dân làng bầu chọn trong số những người đàn ông lớn tuổi và được tôn kính nhất.
 Hogon được chọn phải sống một mình và không cạo râu, tắm rửa trong suốt một thời gian dài. Ông được phục vụ bởi một người trinh nữ nhưng không được chạm vào bất kỳ ai.
 Đàn ông Dogon thường chỉ có một vợ, mặc dù họ được phép đa thê. Thế nhưng người vợ cũng thường chỉ sống chung với chồng cho đến khi sinh con, sau đó cô có thể sinh sống tự do và độc lập nếu muốn.
 
Xã hội Dogon ngày nay cũng đã xuất hiện nhiều tôn giáo khác như Hồi Giáo hay Thiên Chúa Giáo. Những Nhà thơ của họ cũng hết sức kỳ lạ.
 
Những Giáo đường này cũng được đắp bằng đất với kiểu kiến trúc hết sức “Dogon”.
 
 .