Nhà thơ Đức Johann Wolfgang von Goethe khi đến Bern vào năm 1779 đã nhận xét: “Đây là nơi đẹp nhất mà chúng tôi từng thấy”.
Chiếc đồng hồ hơn 800 tuổi vẫn chạy
Bern không nổi tiếng với nhiều sự kiện và trụ sở tầm vóc quốc tế như Geneve (Geneva) hay Zurich, nhưng Bern là thủ đô của Thụy Sĩ, một đô thị cổ có hơn 800 tuổi.
Tôi có lý do để nói đến Bern đầu tiên, chứ không phải là Zurich hay Geneve khi viết về chuyến du ký ở đất nước của đồng hồ và của những ngọn núi cao trên dãy Alps hùng vĩ này. Tôi đã nhiều lần đến Hội An, cũng là một đô thị cổ được UNESCO công nhận là di sản thế giới như Bern, và yêu biết bao những phố cổ nhỏ bé ở đất nước mình. Mỗi lần đến Hội An, tôi cứ nghĩ về Bern vì tôi biết Bern cổ và lớn hơn Hội An rất nhiều, vậy người ta sống và quản lý ra sao ở cái đô thị cổ đó? Rồi những câu chuyện sống động 800 năm qua của Bern cứ thôi thúc tôi phải đặt chân đến nơi này như để thưởng thức một câu chuyện cổ tích.
Có thể nói Bern đẹp nhất trong các thành phố của Thụy Sĩ mà tôi có dịp đi qua. Zurich đẹp hiện đại, Geneve, Lucerne nằm bên hồ thơ mộng, Engelberg, Zermatt nhỏ xinh bên những ngọn núi tuyết, Basel lạ lùng ở biên giới Pháp, Đức, còn Bern hiền hòa và yên bình. Cả một thành phố cổ được bao bọc bởi con sông Aare chảy uốn lượn, xanh mướt, rợp cây xanh và nhấp nhô những mái ngói, mái vòm cổ kính. Bern của hơn 800 năm xây dựng (tính từ 1191), kể cả phần lớn thành phố này từng bị thiêu hủy do hỏa hoạn vào năm 1405, nhưng sức sống của nó vẫn cuồn cuộn chảy cho đến ngày nay.
Tôi đến Bern vào mùa này nên khi nhìn Bern từ Vườn hồng trên độ cao 300 m, có cảm giác cả thành phố cổ đang yên giấc giữa trưa hè, chỉ thấy những con đường nhỏ lát đá quanh co, những mái ngói lô xô trong tiết trời đang chuyển từ hạ sang thu, vừa có nắng vàng, vừa chớm se lạnh… Nhiều cặp tình nhân đến đây từ khắp thế giới để ngắm cả một đồi hồng và cả một quá khứ đang hiện về trước mắt.
Một điều vô cùng thú vị là ở đô thị cổ này, có “một chứng tích sống” tồn tại cũng “sem sem” với độ tuổi “anh cả” Bern, mặc cho “anh cả” từng bị thiêu hủy vào năm 1405. Mỗi ngày, cứ đúng 12 giờ trưa “chàng” lại dõng dạc “lên tiếng” trong sự háo hức chờ đợi của hàng ngàn du khách. Đó là chiếc đồng hồ trên tòa tháp mà hiện nay được gọi là Tháp Đồng hồ Bern nằm trong khu phố cổ, gần tòa nhà quốc hội Thụy Sĩ.
![]() Bern bên dòng sông Aare - Ảnh: C.M.H |
Theo người hướng dẫn Sandra Zurbuchen (của Cơ quan du lịch Bern), tháp và đồng hồ được xây dựng và chế tạo vào đầu thế kỷ thứ 13, tháp thì kết cấu bằng gỗ và đồng hồ thì bằng sắt, thép, đồng. Năm 1405, khi Bern bị hỏa hoạn tháp cũng bị cháy, chiếc đồng hồ khổng lồ hư hao ít nhiều. Đến năm 1771, người ta mới cho xây lại tháp như ngày nay và đồng hồ thì “trơ gan cùng tuế nguyệt”, về hình dáng như thuở ban đầu.
Quả là một điều bí ẩn khi sau bao nhiêu năm chiếc đồng hồ vẫn chạy chính xác với cả một bộ máy vận hành. Nó còn làm được cả nhiệm vụ thông báo tin tức, ngày tháng, kể cả hình con rối diễn trò trước vài giây khi nó chính thức ngân nga tiếng chuông báo giờ cho cả khu phố cổ trong sự ngạc nhiên của mọi người.
Quả là chỉ có người Thụy Sĩ mới trả lời được. Còn với tôi, thời gian như ngưng đọng ở nơi này, người dân ở Bern có dùng một thuật ngữ để chỉ lối sống mà họ ưa thích: Hãy để thời gian chậm lại... Có lẽ vì thế mà người ta cũng ví von Bern là thành phố sống… chậm nhất thế giới (nhưng cũng nhanh nhất thế giới về những gì mà họ tạo ra). Nó cũng giống như cung đường xe lửa cao tốc nối từ Lucerne đi Zermatt, được Tổ chức Guinness công nhận là chậm nhất thế giới, nhưng thực ra nó là chuyến tàu hỏa hiện đại nhất mà người Thụy Sĩ tạo ra để... chạy chậm cho du khách ngắm cung đường đẹp nhất của dãy Alps trên đất nước họ.
“Ghé” nhà Albert Einstein
Từ tháp đồng hồ, xuôi theo con đường “Lauben” - đường Mái vòm (như cách người dân Bern gọi con đường gần 6 km với nhiều ngôi nhà có hình mái vòm theo kiến trúc Gothic trong phố cổ), có một địa chỉ mà tôi cũng như các thành viên trong đoàn vô cùng bất ngờ khi đứng trước nó: nhà của Albert Einstein.
Ai cũng biết nhà vật lý Albert Einstein là người Đức, nhưng đã có đến 7 năm sống ở Bern (1902 - 1909) và trong thời gian dạy đại học ở Bern ông đã tìm ra Thuyết tương đối vĩ đại cũng tại căn nhà này.
Ngôi nhà, nói đúng hơn là một căn hộ, nơi ông đã sống ở đây 5 năm, giờ bên trong là một bảo tàng nhỏ trưng bày những hình ảnh về Albert Einstein, còn bên ngoài rất giản dị với dòng chữ tiếng Đức Albert Einstein Haus - 1902-1907. Trước hiên nhà, người ta để một cái bàn, vài chậu cây xanh, như một quán nước nhỏ xinh xắn cho du khách nghỉ chân. Đơn giản vậy đó, mà mỗi ngày đều có nhiều du khách ghé thăm, ai vội vàng thì cũng cố gắng chụp một “pô” hình trước ngôi nhà của thiên tài, ai có thời gian thì ngồi vào những chiếc ghế trước hiên nhà suy ngẫm cùng ông về thuyết tương đối.
Cũng lạ kỳ, phải chăng cách sống của Bern (hay chính thành phố sống chậm này) đã cho ông một phát minh vĩ đại nhất của nhân loại, vượt trước thời đại của ông đang sống? Lại nhớ có người bạn Thụy Sĩ sống ở Bern thường nhắc một thuật ngữ của dân xứ này, rằng nên “giảm tốc độ” (sống) thì sẽ có những điều trọn vẹn hơn... Anh còn nói rằng, giảm tốc độ sống không có nghĩa là lãng quên thời cuộc, sống hưởng thụ mà là tránh xa trước những bon chen, để nhìn lại mình, làm những điều tốt đẹp hơn cho cuộc sống. Cũng là gần với thuyết nhà Phật của phương Đông vậy!
Đến đây thì tôi đã có câu trả lời vì sao 800 năm qua Bern vẫn tồn tại, người ta vẫn sống trong một đô thị cổ kính và yên bình như vậy, mặc cho những thay đổi của lịch sử. Tôi chợt nghĩ đến Hội An. Cũng như Bern, Hội An và người dân phố Hội đã như sự sống của chiếc đồng hồ, dù cũ kỹ vẫn luôn có ích cho đời, nếu cuộc đời biết nâng niu và giữ gìn nó... .
Thụy Sĩ có trên 400 viện bảo tàng, dù dân số chỉ có gần 8 triệu người và diện tích đứng thứ 132 trên thế giới.
Tranh quý trên cầu cổ
Lucerne, nằm ở miền trung Thụy Sĩ, cách Zurich khoảng 60 km và chỉ đi tàu điện khoảng một giờ (thật ra Thụy Sĩ rất nhỏ, nên từ vùng này qua vùng kia cũng không xa xôi lắm). Người ta ví von Lucerne là Thụy Sĩ thu nhỏ vì ở đây có hồ, có núi, có người nói tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý và tiếng Romansh (4 ngôn ngữ chính thức của Thụy Sĩ). Dĩ nhiên là có những kiến trúc cổ và những viện bảo tàng, niềm tự hào của dân Thụy Sĩ.
Vừa bước khỏi nhà ga trung tâm của Lucerne vài bước là bạn có thể thấy ngay một trung tâm văn hóa hiện đại bậc nhất Thụy Sĩ, mà ở đó như một bảo tàng sống với tất cả những hoạt động của nền hội họa hiện đại của châu Âu và thế giới hiện diện. Nhưng ấn tượng với tôi chính là chiếc cầu gỗ Chapel cùng tháp nước hình bát giác bắc qua sông Reuss ở đoạn cuối hồ Lucerne. Có thể nói đây là một điểm nhấn về mặt kiến trúc và không gian cho cả thành phố này, nó như một “đường hoa” sống động cho mọi người chiêm ngưỡng, đặc biệt là những tác phẩm hội họa gắn trên khung mái che của cầu.
![]() Cầu Chapel - một điểm nhấn của Lucerne - Ảnh: C.M.H |
Chiếc cầu được hoàn thành vào năm 1333 như một công sự phòng thủ trong việc chống ngoại xâm, nhưng mãi đến thế kỷ 17, người ta mới cho gắn lên 110 bức tranh để nói lên sinh hoạt của người Lucerne và các truyền thuyết về 2 vị thánh bảo trợ của thành phố là Leodegar và Mauritius. Chỉ tiếc là hiện chỉ còn lại 35 bức nguyên vẹn, vì vào năm 1993 cầu đã bị phá hủy một phần do hỏa hoạn (lại cũng như Bern). Năm 1994, chính quyền thành phố đã bỏ ra đến 2,1 triệu USD để xây dựng lại chiếc cầu và phục dựng các bức tranh cổ, trong đó có nhiều bức đã được thay thế hoặc sao chép vì không thể phục dựng. Dẫu vậy, ai đến Lucerne mà không đi qua chiếc cầu gỗ này, chiêm ngưỡng những tác phẩm và nhìn đàn thiên nga bơi lội dưới cầu thì xem như chỉ biết một phần của Lucerne.
Chỉ cần một cây cầu cổ với 110 bức tranh, người dân Thụy Sĩ đã tạo nên một bảo tàng độc đáo đến như vậy, huống hồ ở những bảo tàng danh tiếng khác, ví dụ Bảo tàng Fondation Beyeler - Basel, nằm ở ngã ba biên giới Thụy Sĩ - Đức - Pháp mà chúng tôi cố gắng dành thời gian ghé qua khi đến Basel. Đây là một bảo tàng có những tác phẩm giá trị của các họa sĩ theo trường phái tân cổ điển, từ Van Gogh đến Picasso. Hôm chúng tôi đến, dù trời mưa tầm tã cũng có rất nhiều khách xếp hàng vào tham quan. Chỉ tiếc là, không ai được chụp một bức ảnh nào về những tác phẩm quý này khi bước vào bảo tàng.
![]() Tượng đài Sư tử đang hấp hối - Ảnh: C.M.H |
Bảo tàng giao thông vận tải lớn nhất thế giới
|
Có lẽ trước khi đến Thụy Sĩ, tôi không hình dung được ở Lucerne lại có một bảo tàng chuyên về... giao thông. Người ta đi xem bảo tàng lịch sử, bảo tàng nghệ thuật, bảo tàng về... sex, chứ không ai nghĩ rằng đi xem bảo tàng về các phương tiện giao thông. Tôi đã lầm, khi đến với Bảo tàng Giao thông vận tải Thụy Sĩ (Verkehrshaus der Schweiz - Swiss) được thành lập cách đây 50 năm, không thể tưởng tượng nổi, ở bảo tàng này tất cả những phương tiện giao thông từ cổ đến kim, từ châu Phi xa xôi đến châu Âu, châu Á đều có. Có những chiếc xuồng cổ tuổi thọ hàng ngàn năm, đến chiếc máy bay mới nhất đang nghiên cứu. Có thể nói, ai có máu mê nhìn ngắm những sưu tập các phương tiện giao thông từ khi chưa có động cơ đến hiện đại thì tha hồ chìm đắm trong bảo tàng này. Ông Wachter, người đưa chúng tôi tham quan bảo tàng, cho biết mỗi năm bảo tàng đón nhận trên 1 triệu lượt người.
Thật sự tôi cũng thắc mắc vì sao người Thụy Sĩ có thể tự hào về bảo tàng tưởng như ít người quan tâm đến thế. Thật ra, người Thụy Sĩ có cái lý của họ. Bà Isabella Ignacchiti, Giám đốc thị trường của Hệ thống du lịch Thụy Sĩ (Swiss Travel System, một trong những đối tác của Công ty du lịch Thiên Thanh - VN), tự hào cho biết: “Vì chúng tôi có một hệ thống giao thông phát triển từ lâu đời và hiện nay vẫn có một hệ thống giao thông bậc nhất với hơn 26.000 km đến mọi ngõ ngách của Thụy Sĩ, đến các nước xung quanh, nên chúng tôi muốn tôn vinh những phương tiện giao thông và bên cạnh đó cho du khách hiểu hơn về hệ thống giao thông ở đất nước chúng tôi”. Nói đến đây, bà mới “bật mí” thêm: cái vé Swiss pass mà chúng tôi được bà trao hôm đặt chân đến Thụy Sĩ chính là một phương tiện hữu hiệu khi du khách Việt Nam đến Thụy Sĩ. À, thì ra là vậy. Thảo nào cả một chuyến đi từ Zurich - Engelberg - Lucerne - Bern - Basel dù bằng tàu điện tàu hỏa, tàu thủy chúng tôi không thấy nhân viên nào hỏi vé tàu, vé xe của mình.
Bà Isabella Ignacchiti cho biết thêm, thông qua Công ty du lịch Thiên Thanh, vào mùa thu này, hệ thống du lịch Thụy Sĩ sẽ cung cấp loại vé cho du khách Việt Nam mà như bà nói “rất ưu đãi với các bạn Việt Nam”. Nói nôm na rằng nếu bạn đưa người yêu hay bất cứ người nào đó đến Thụy Sĩ, bạn chỉ cần sở hữu một vé Swiss pass.
Người Thụy Sĩ quả là có đầu óc kinh doanh... xuyên lục địa. Và ở xứ này, kinh doanh du lịch - bảo tàng và phương tiện giao thông đều liên quan với nhau mật thiết như chúng tôi chứng kiến vậy...
Đỉnh núi cao Titlis có từ khi nào không ai biết, nhưng hệ thống leo núi ở đây đã có hơn 100 năm, cùng một câu chuyện tình cũng thật ngọt ngào.
.
Chuyện tình Titlis
Nếu du khách khi đến Engeberg, được mệnh danh là “thị trấn thiên thần”, đều háo hức muốn chinh phục những đỉnh núi tuyết Titlis cao 3.020 m bằng hệ thống cáp treo quay vòng đầu tiên trên thế giới được xây dựng cách đây 20 năm (dĩ nhiên là luôn được hiện đại hóa mỗi năm), thì chúng tôi lại thích thú trước câu chuyện tình của anh Tobias Matter, giám đốc kinh doanh của Titlis Rotair và chị Helen, vợ anh.
![]() Vợ chồng Tobias Matter - Helen và con trai |
Hiền lành, tốt bụng và chu đáo là những gì chúng tôi cảm nhận được từ vợ chồng người Thụy Sĩ này. Buổi tối đầu tiên ở độ cao 2.500 m của khu nghỉ dưỡng Truebsee Alpine Lodge, anh đưa cả vợ và đứa con trai nhỏ theo để tiếp chúng tôi, dù trời mưa tầm tã. Khi gặp Tobias và Helen, chúng tôi hơi tò mò về sự chênh lệch tuổi tác của anh, chị (chị lớn hơn anh đến 9 tuổi) nhưng không ai lên tiếng (vì biết rằng điều này không lịch sự lắm, nhất là với người Tây phương). 2 ngày sau đó, anh chị như hình với bóng cùng với bé Andrin đưa đoàn chúng tôi đi thăm các địa danh ở Engeberg, tìm hiểu về 100 năm hoạt động của khu trượt tuyết và nghỉ dưỡng Titlis. Trong mắt anh chị, Engeberg và Titlis không chỉ là “thị trấn thiên thần”, “thủ đô trượt tuyết” của Thụy Sĩ, mà còn như “mắt trong mắt” của nhau.
Bên ly bia sóng sánh vàng, vào buổi tối chia tay chúng tôi, anh chị mới bật mí về mối tình “chênh lệch” của mình. Tobias hào hứng “khoe” anh từng là lính của chị Helen trước đây trong cơ quan du lịch của Engeberg. Làm việc chung mỗi ngày, với độ tuổi chênh nhau, anh không nghĩ rằng có một ngày anh và chị lại yêu nhau. Thế rồi, chuyện gì đến cũng đến, đùng một cái vào một ngày đẹp trời chị Helen đã tỏ tình với anh. Thế là hai người đi đến hôn nhân. Anh chuyển sang làm quản lý ở Titlis Rotair, chị vẫn miệt mài với công việc và giúp chồng những lúc rảnh rỗi. Mỗi ngày anh đều phải lên xuống ngọn núi Titlis nhiều lần vì công việc và hình như trong anh luôn có hình bóng chị trên đỉnh núi cao này... Bây giờ họ đã có bé Andrin làm “cầu nối” giữa 2 người mỗi khi giận hờn. Được cô bạn Trà My (Báo Nhân Dân) tặng một tấm khăn choàng thổ cẩm, anh Tobias hồ hởi cởi ra quàng lên cổ vợ mình, thoáng thấy nụ cười hạnh phúc trong đôi mắt chị. Anh còn hứa sẽ đưa chị sang du lịch Việt Nam trong thời gian sớm nhất.
Titlis - Engeberg - Thụy Sĩ hình như đẹp hơn khi nhìn vào đôi mắt của họ.
Câu chuyện làm du lịch
Có thể nói chính lời mời của Công ty du lịch Thiên Thanh (Blue Sky travel), Titlis Rotair, Tổng cục Du lịch Thụy Sĩ mà đoàn nhà báo Việt Nam mới có những ngày tìm hiểu kỹ về đất nước Thụy Sĩ. Điều để lại trong lòng chúng tôi ngoài những thắng cảnh đẹp như tranh, một mối tình dễ thương của một cặp vợ chồng Thụy Sĩ là cách làm du lịch chuyên nghiệp của người Thụy Sĩ.
![]() Thị trấn Engeberg - Ảnh: C.M.H |
Khen họ thì quả bằng thừa, nhưng với một thị trường chưa phải là lớn như Việt Nam mà họ đã có chiến lược hướng đến với một kế hoạch rất cụ thể. Chị Nguyễn Háo Thanh Phi, Giám đốc của Blue Sky travel cho biết: “Từ 3 năm trước Titlis Rotair và Tổng cục Du lịch Thụy Sĩ đã cùng Blue Sky travel hợp tác đưa du khách Việt Nam sang Thụy Sĩ, dù biết là thời điểm đó người Việt Nam chưa đi du lịch ở Thụy Sĩ nhiều. Chúng tôi rất lạc quan vì chỉ 3 năm qua lượng khách đi du lịch Thụy Sĩ tăng đến 60% qua công ty chúng tôi”.
Quan sát những nơi đi qua, tôi thật sự nể phục người Thụy Sĩ trong lĩnh vực du lịch. Họ biết kết hợp giữa văn hóa và kinh doanh (như chuyện tấm thẻ Swiss pass mà chúng tôi đã đề cập đến). Họ biết trân trọng và giữ gìn những di sản, biết cách tiếp thị một cách như không tiếp thị. Chỉ vài con số thôi cũng đủ nói lên điều đó: chỉ ở Titlis - Engeberg với 4.200 cư dân mà hằng năm có đến 760.000 người đăng ký nghỉ qua đêm. Ở Bern, cô Sandra Zurbuchen, phụ trách truyền thông của Bern Tourism, cho biết, từ đầu năm 2012 đến nay cô đã đón 62 đoàn nhà báo của các nước. Đoàn nhà báo Việt Nam là 63 và trong buổi chiều sau khi tiếp đoàn chúng tôi cô còn đón tiếp 2 đoàn nữa là Nhật và Ấn Độ. Quả là họ biết sử dụng truyền thông như một công cụ để quảng bá du lịch rất hữu hiệu. Một chi tiết cũng thật nhỏ: Ở quầy lưu niệm dưới chân núi của khu Titlis Rotair, chúng tôi tự dưng thấy vui hơn khi trên nền một cái áo thun để bán cho du khách, có 2 chữ Thụy Sĩ bằng tiếng Việt bên cạnh ngôn ngữ của các nước khác.
Bern - TP.HCM
tháng 9.2012
tháng 9.2012
Cao Minh Hiển





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét