TTO - Cơn gió rủi ro đã lật Vasa đổ nhào sang mạn, tuy nhiên khi chìm xuống nó trở lại vị trí thẳng và nằm dưới đáy biển ở độ sâu 32m. Chiều cao tối đa của Vasa (từ sống tới đỉnh của cột buồm chính) là 52,5m. Những chiếc cột buồm của tàu nhô lên khỏi mặt nước ngay giữa cảng tàu Stokhom tạo ra sự cám dỗ lớn vô cùng.
Chỉ ba ngày sau khi tai nạn xảy ra, đã có nhiều người tự nguyện tham gia nhấc tàu lên khỏi đáy biển. Người đầu tiên là một công dân Anh Ian Bulmer. Sau khi ông ta chấp nhận thất bại, việc nhấc tàu lên được giao cho đô đốc hải quân Thụy Điển Fleming. Để trợ giúp, ông này đã nhờ Hans Olofsson “dài nghêu” từ thành phố Karenlia, người “có thể đi lại dưới nước”. Tuy nhiên ngay cả Hans cũng không thu được kết quả gì.
Hiện vật còn lại trên tàu Vasa |
Trong gần 30 năm sau tai nạn, các nhà phát minh, những người tìm kiếm kho báu và những kẻ mạo hiểm đã đổ về Stokhom để bằng cách này hay cách khác thử nâng hoặc là cả con tàu lên khỏi mặt nước, hoặc là 64 khẩu đại bác bằng đồng quý giá của nó.
Thú vị là vào giữa thế kỷ 16, một người Ý là Germolado Cardano đã công bố trong một bài luận văn của mình bằng bản khắc, trên đó chỉ ra kỹ thuật nâng tàu chìm sử dụng dây chão nối với những chiếc phao lớn (chính kỹ thuật này đã được sử dụng khi nâng tàu Vasa lên khỏi đáy biển ở thế kỷ 20).
Tuy nhiên lý thuyết vẫn chỉ là lý thuyết, còn trên thực tế vẫn chẳng có kết quả gì đáng kể thu được cho tới tận năm 1658, khi mà những khẩu đại bác của Vasa được một người Thụy Điển là Albrecht von Treuleben và một người Đức là Andreas Pekkell quan tâm. Họ đến Stokhom, với thiết bị kỹ thuật hiện đại nhất - tiềm thủy khí (chuông lặn). Bản sao của thiết bị này được làm lại và thử nghiệm vào năm 1960, đặt trong gian trưng bày.
Chiếc chuông lặn giống như một chiếc cốc lớn (chiều cao gần 1,5m) bằng kim loại được đặt úp, một tấm kim loại nặng được nối với nó bằng các sợi dây xích. Khi thợ lặn đứng trên tấm kim loại này, đầu anh ta sẽ nằm trong túi khí chứa bên trong chiếc cốc. Trong bóng tối và giá lạnh ở độ sâu 30m, thợ lặn cần phải tháo những khẩu đại bác nặng cả tấn rời khỏi giá pháo, kéo chúng qua ô cửa khoang đại bác và đưa lên mặt nước.
Nhìn vào chiếc chuông lặn, khó mà có thể tin những việc kể trên có thể thực hiện được. Tuy nhiên, trong thời gian hai mùa, người của von Treuleben đã đưa lên được hơn 50 khẩu đại bác.
Trong bài viết của mình khi quan sát công việc của các thợ lặn năm 1663, nhân chứng - linh mục người Ý Francesco Negri - đã viết: “Thợ lặn mặc bộ quần áo da với giày da hai lớp. Đứng trên bệ làm từ thiếc, treo dưới chuông lặn. Tôi hỏi anh ta có thể ở dưới nước bao lâu. Anh ta trả lời nửa tiếng. Tuy nhiên lúc đó là cuối tháng 10, sau mười lăm phút chuông lặn được nhấc lên, thợ lặn đã run rẩy vì lạnh, dù đó là một người khỏe mạnh, lực lưỡng, sinh ra và lớn lên tại đây. Tôi muốn tự mình thử với chiếc chuông lặn đó nhưng họ đã khuyên can tôi…”.
Công việc của những người thợ lặn ở thế kỷ 17 thật sự là một kỳ tích. Để so sánh có thể nhắc lại rằng vào cuối những năm 1950 (thế kỷ 20), khi mà thợ lặn được trang bị hiện đại, vẫn cần cả một ngày để có thể nhấc được một khẩu đại bác của Vasa lên.
Vào năm 1683, thêm một khẩu đại bác nữa của Vasa được đưa lên, rồi từ sau đó những cố gắng trục vớt gì đó từ con tàu rủi ro đã hoàn toàn ngưng lại. Những chiếc cột buồm của con tàu vẫn còn nhô lên khỏi mặt nước cho đến tận thế kỷ 18, sau đó bị mục nát và đổ. Theo thời gian, vị trí chính xác của con tàu dần bị lãng quên.
Thế giới của tàu Vasa
Vật có giá trị duy nhất được nhấc lên cùng với con tàu vào năm 1961 là một chiếc vòng vàng nhỏ. Còn hàng chục nghìn vật phẩm khác tìm thấy trên boong tàu, theo ý nghĩa lịch sử chỉ toàn là kho báu giả.
Đó là những chiếc rương của các sĩ quan, của cải của các thủy thủ, quần áo, dụng cụ, thiết bị y tế dễ hiểu, đồ chơi để bàn và tất nhiên là cả những vật dụng liên quan tới dây nhợ và đồ trang trí cho con tàu. Những bộ phận bằng kim loại của dụng cụ chỉ còn sót lại vụn gỉ sắt, nhưng những cái vồ, tay nắm của những chiếc khoan tay, chiếc bào trông vẫn như mới.
Thời gian không làm chủ được đối với những chén đĩa bằng thủy tinh, gốm, thiếc. Một trong những chiếc bình thiếc vẫn còn đựng rượu rhum - của hiếm ở đầu thế kỷ 17 (đồ uống chính của những người đi biển thời đó là bia). Đáng kinh ngạc nhất là những cánh buồm và dây chão.
Vì sao sáu trong số mười cánh buồm của con tàu vẫn còn nguyên vẹn quả là điểu không thể hiểu nổi. Tuy nhiên, đó lại là sự thật: chúng được đặt trong gian trưng bày. May mắn lớn của Bảo tàng Vasa là ở chỗ trên các khoang tàu không có đồ trang sức quý báu, nhờ vậy mà bản thân con tàu và những đồ vật tìm thấy được đem ra trưng bày với ý nghĩa như di tích văn hóa và kỹ thuật.
Hiện vật còn lại trên tàu Vasa |
Ở gian trưng bày “Cuộc sống trên boong nếu như Vasa ra khơi…”, hiện ra trước mắt người xem là hàng trăm hiện vật, minh họa sinh động về trang phục, dụng cụ của các thủy thủ, những gì họ ăn, họ uống, nghỉ ngơi ra sao và cả việc điểu khiển con tàu thế nào. Người xem theo đó, hiểu được về cấu trúc của thủy thủ đoàn, quan hệ giữa các sĩ quan và các thủy thủ.
Ở đây có mô hình một phần của con tàu với kích thước thật. Người xem có thể đi lại trong khoang đại bác, nóc tàu sát ngay trên đầu, thử các loại vũ khí, sờ vào chiếc sào lái đứng (vôlăng ở thời kỳ của Vasa vẫn chưa hề có).
Những trận hải chiến, những đặc tính hàng hải, đặc tính chiến đấu của các loại thuyền buồm, những bí mật đóng tàu cũng gây được sự chú ý riêng. Vasa là cái cớ để có thể kể nhiều câu chuyện khác nhau. Ngay bên cạnh bảo tàng, thậm chí còn có cả một cái vườn nhỏ, trong đó có các loại rau quả, các loại hoa và các loại thảo dược được trồng vào thời kỳ đó.
Một vị trí lớn được dành để chế tạo lại những đồ trang trí, tượng lộng lẫy của con tàu. Những bản khắc thật nhiều màu sắc giờ chỉ còn một màu đen hệt như thân tàu. Những màu sơn sặc sỡ đầu tiên được phục chế trên các bản sao - dưới cái nhìn hiện đại mang phong cách babarian. Nói chung, phần lớn các bức phù điêu người xem không được lại gần. Những người thợ chạm đã hướng tới người xem trên bờ khi họ ngắm nhìn con tàu.
Và tất nhiên khó có thể mô tả cho hết được về con tàu khi nó đứng trong cảnh tranh tối tranh sáng của gian phòng được thiết kế riêng cho nó. Người xem cũng không được phép leo lên tàu, tuy nhiên có thể xem xét nó thật tỉ mỉ - từ sống tàu cho tới cột buồm. Gian nhà bảo tàng có bảy tầng: các gian bên hông là gian trưng bày, còn vị trí trung tâm là “căn hầm”, nơi con tàu tọa lạc.
Di chuyển từ gian này sang gian khác, bạn luôn luôn nhìn thấy Vasa - từ dưới lên, từ bên hông, từ trên xuống…
Gian nhà của bảo tàng được xây trên nền bến tàu cũ ở thế kỷ 19, đây là nơi mà ban đầu Vasa được đưa đến, sau đó tháo hết nước. Tòa nhà rộng lớn bằng bêtông phủ đồng này từ xa nhìn lại, dù không cần phải thêm chút biếm họa nào, trông cũng giống một con tàu. Nét tương đồng càng tăng lên bởi ba cột buồm thép đặt trên nóc nhà, tựa như là phần nối tiếp của những cột buồm của tàu Vasa bên trong.
Không để ý tới toàn bộ hoạch định của Bảo tàng Vasa, vẫn có những câu hỏi xuất hiện ngoài lề triển lãm. Các thành viên thủy thủ đoàn lên tàu bằng gì? Cuộc sống trên tàu có dễ chịu hơn trên mặt đất? Đơn vị nào của hải quân và bộ binh phục vụ tới 40 tuổi? Gia đình họ sống ra sao, nếu như họ có gia đình, sau khi họ hi sinh? Chiến tranh với họ là gì?
Câu trả lời cho những câu hỏi tương tự như vậy chúng ta sẽ tìm được trong một bảo tàng đáng ngạc nhiên nữa của Stockholm - Bảo tàng quân đội.
HOÀNG HÀ MAI (Theo tạp chí Vokrug Sveta)
Chú thích:
(1) Narva - con sông ở khu vực biên giới giữa Nga và Estonia(2) Dansik (Gdańsk) - thành phố phía bắc Ba Lan (3) Wisla - con sông của Ba Lan - là con sông dài nhất và có lượng nước lớn thứ hai (sau sông Nheva) đồ vào biển Baltic (4) Estland - vùng bắc Estonia trước kia (5) Pomerania
(6) fun - đơn vị khối lượng (của Anh 453,6g, của Nga 409,5g)
(6) fun - đơn vị khối lượng (của Anh 453,6g, của Nga 409,5g)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét